Top 21 # Xem Nhiều Nhất Giờ Lễ Nhà Thờ Bình Sơn Quận 8 / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Asus-contest.com

Giờ Lễ Nhà Thờ Bình An (Quận 8, Tphcm) / 2023

Chi tiết giáo xứ

Khi mới đến dải đất này, người dân Bình An sống tạm trong hai gian nhà của kho Trần Đông Á (nay là đất trống của nhà máy cơ khí Nông-Lương), gọi là trại định cư Bình Xuyên và Cha Giuse Đoàn Phi Hùng được Cha Phaolô Hoàng Quỳnh chỉ định làm Trại trưởng. Đầu năm 1955, vì số người đến trại định cư ngày càng đông nên để ổn định cuộc sống và thi hành Mục vụ, Cha Phaolô Hoàng Quỳnh đã chia giáo dân và lập các trại riêng, sau đó hợp thức hóa thành giáo xứ trong hệ thống tổ chức của Giáo Phận Saigon.

Ngày 1 tháng 5 năm 1955, giáo xứ Bình An chính thức được thành lập, nhận Đức Mẹ Mân Côi làm Quan Thầy của giáo xứ (Đức Mẹ Mân Côi cũng là Quan Thầy của Giáo Phận Phát Diệm). Đức Giám Mục Giáo Phận Saigon Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền bổ nhiệm Cha Phaolô Hoàng Quỳnh làm chính xứ kiêm Hạt trưởng hạt Bình An.

Linh mục chính-phó xứ phục vụ giáo xứ Bình An từ năm 1955 đến nay:

1955 – 1977: Lm. Phaolô Hoành Quỳnh, chính xứ, Hạt trưởng hạt Bình An (Rip) 1955 – 1967: Lm. GB. Hoàng Tất Đắc, giúp xứ (Rip) 1956 – 1959: Lm. Phêrô Vũ Đức Tăng, giúp xứ (Rip) 1955 – 1966: Lm. Giuse Đoàn Phi Hùng, phó xứ, Hiệu trưởng Trường Đồng Tâm (Rip) 1955 – 1958: Lm. Giuse Vũ Hữu Văn, giúp xứ (Rip) 1960 – 1962: Lm. Pascal Vũ Hoàng Bát, phó xứ, Hiệu trưởng Trường Đồng Tâm (Rip) 1977 – 1999: Lm. Luca Trần Khánh Tích, chính xứ, Hạt trưởng hạt Bình An (Rip), từ năm 1962 – 1975: Hiệu trưởng Trường Đồng Tâm 1966 – 1980: Lm. Giuse Đinh Công Huỳnh, phó xứ 1988 – 1992: Lm. GB Nguyễn Văn Hiếu, phó xứ 1992 – 1998: Andrê Trần Minh Thông, phó xứ 1998 – 2001: Tôma AQ Hoàng Ngọc Công, phó xứ

1999 – đến nay: Lm. Giuse Trịnh Văn Viễn, chính xứ, Hạt trưởng hạt Bình An 2001 – 2006: Lm. Giuse Đỗ Mạnh Cường. phó xứ 2006 – 2010: Lm. Giuse Lê Ngọc Đa, phó xứ 2010 – đến nay: Lm. Giuse Nguyễn Văn Long, phó xứ 2013 – đến nay Lm Phêrô Nguyễn Ngọc Châu, phó xứ

II. Cơ cấu tổ chức và điều hành giáo xứ:

Ngay từ những ngày mới thành lập, giáo xứ Bình An đã có linh mục chính, phó xứ và Hội đồng giáo xứ, nay gọi là Hội đồng Mục vụ Giáo xứ (HĐMVGX). Nhiệm vụ chính của HĐMVGX là cộng tác với linh mục trong việc điều hành giáo xứ.

1/ Ban thường vụ HĐMVGX có nhiệm kỳ 4 năm, gồm:

* Chủ tịch (chánh trương) * Phó chủ tịch Nội vụ và phó chủ tịch Ngoại vụ (phó trương) * Tổng thư ký. * Tổng thủ quỹ * Tuần kiểm

Nhiệm vụ chính của Ban thường vụ (BTV): hợp lực với linh mục chính xứ trong việc quản trị và điều hành công việc chung của giáo xứ.

BTV HĐMV giáo xứ họp mỗi tuần một lần (đầu tuần)

HĐMVGX họp định kỳ mỗi tháng một lần (tối thứ tư đầu tháng), thành phần tham dự gồm: Cha chính – phó xứ, BTV HĐMVGX, các vị cựu chánh trương, BCH 8 họ, BQT các hội đoàn, các ca đoàn, các ban, các giới. Nội dung cuộc họp: báo cáo mọi sinh hoạt và các khoản thu-chi trong tháng, đề xuất phương hướng hoạt động trong tháng tới.

Mỗi năm họp Đại hội một lần vào cuối năm để tổng kết và lên kế hoạch cho năm mới. Thành phần tham dự gồm:

Linh mục chính, phó xứ Các tu sĩ nam-nữ đang phục vụ trong giáo xứ Tân-cựu BTV HĐMVGX Tân-cựu BCH 8 họ Tân-cựu BQT các hội đoàn, đoàn thể, ca đoàn, các ban, các giới.

Giáo xứ Bình An được chia thành 8 giáo họ gồm: Họ IA (Họ Thánh Tâm Chúa), Họ IB (Họ Thánh Phêrô Tông đồ), Họ 2 (Họ Thánh Giuse), Họ 3 (Họ Thánh Phanxicô Xavie), Họ 4 (Họ Thánh Phaolô Tông đồ Trở lại), Họ 5A (Họ Thánh Gioan Baotixita), Họ 5B (Họ Thánh Gioan Tông đồ), Họ Đồng Xá (Họ Thánh Phêrô Tông đồ).Mỗi Họ có BCH gồm: Trùm chánh, trùm phó, thư ký. Tùy thời điểm, hoàn cảnh, số lượng thành viên trong BCH ở mỗi giáo họ có khác nhau và do Đại hội trong họ quyết định. Thành phần tham dự Đại hội giáo họ gồm: quí chức tân-cựu và đại diện các gia đình trong giáo họ. BCH giáo họ có nhiệm kỳ 4 năm, nhiệm vụ chính là phối hợp, điều hành công tác chung của giáo họ mình, thi hành các quyết định của Cha xứ và BTV HĐMV GX.

3/ Các hội đoàn, đoàn thể, các ban, các giới:

Giáo xứ thành lập các hội đoàn, ca đoàn, các ban, các giới nhằm mục đích phục vụ tốt hơn cho công tác mục vụ, phối hợp điều hành và thi hành công việc chung theo chỉ đạo của Cha xứ, của BTV HĐMV GX. Giáo xứ Bình An hiện nay có 25 hội đoàn, đoàn thể, các ban các giới đang sinh hoạt: Hội Các Bà Mẹ Công Giáo, Hội Con Đức Mẹ, Hội Bảy Sự, Hội Khấn Martinô, Hội Gia Đình Phạt Tạ Thánh Tâm, Hội Khấn Thánh Giuse, Ban Lễ Sinh, Ban Loan Báo Tin Mừng, Ban Mục Vụ Ơn Gọi, Ban MV Di Dân, Ban MV Truyền Thông, Ban MV TNTT, Ban Âm Thanh Ánh Sáng, Ban Phụng Vụ, Ban Kèn Đồng, Ban Giáo Lý, Giới Gia Trưởng, Nhóm Lòng Thương Xót Chúa, Gia Đình Lêgiô Marie, Ca Đoàn Lêgiô, Ca Đoàn Hiền Mẫu, Ca Đoàn Thánh Thể, Ca Đoàn Phanxicô, Ca Đoàn Thiên Thần, Ca Đoàn Hiệp Hội Thánh Mẫu.

Sinh hoạt công giáo tiến hành của các hội đoàn, các ban, các giới theo tôn chỉ và mục đích riêng, tự chọn ra BQT theo mỗi nhiệm kỳ gồm: Hội trưởng-trưởng ban-ca trưởng hay đoàn trưởng, hội phó, thư ký, thủ quỹ…

Nơi phụng tự, sinh hoạt mục vụ: Trong những năm đầu thành lập, mặc dù đời sống còn rất nhiều khó khăn, nhưng việc thờ phượng và các sinh hoạt tôn giáo không hề bị gián đoạn. Khởi đầu, quí Cha đã dùng hai căn nhà kho giáo dân tạm cư làm nơi dâng lễ, cử hành các nghi thức phụng tự.

Năm 1956, giáo xứ mua dàn khung kho cũ, lợp ngói đã qua sử dụng, xây tường, tráng ciment (diện tích khoảng 400m2. Bằng nhiều hình thức, Cha xứ vận động giáo dân chắt chiu đóng góp xây dựng Nhà thờ. Đến năm 1958, ngôi Thánh đường đầu tiên của giáo xứ hoàn thành và được Đức Giám Mục Giáo Phận Saigon Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền về chủ tọa lễ khánh thành.

Năm 1970, ngôi Thánh đường bằng vật liệu cũ xuống cấp. Nhằm đáp ứng số giáo dân ngày một đông, Cha xứ lại tiếp tục kêu gọi giáo dân đóng góp công-của, quyết tâm xây dựng ngôi Thánh đường mới khang trang, kiên cố hơn. Cho đến nay, ngôi Thánh đường vẫn còn giá trị sử dụng, dài 42m, rộng 21m, đến đỉnh Thánh giá cao 20m (diện tích 882m2). Qua hai năm xây dựng khẩn trương, ngày 27 tháng 4 năm 1972, Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã chủ tọa lễ khánh thành.

Dịp Nhà thờ giáo xứ tròn 25 tuổi, Cha chính xứ Luca Trần Khánh Tích cùng cộng đoàn giáo dân đồng tâm, nhất trí trùng tu, nâng cấp trong-ngoài Nhà thờ. Ngày 27 tháng 4 năm 1997, cộng đoàn giáo xứ hân hoan đón Đức Cha Phaolô Maria Nguyễn Minh Nhật (Giám Mục Giáo Phận Xuân Lộc) chủ sự Thánh lễ đồng tế mừng Ngân khánh, Thánh hiến Bàn thờ và Nhà thờ giáo xứ.

Năm 2004, Cha chính xứ Giuse Trịnh Văn Viễn kêu gọi lòng hảo tâm của giáo dân và các vị ân nhân trong-ngoài giáo xứ tiếp tục đại tu toàn diện Nhà thờ nhân dịp đón mừng năm Thánh Thể 2005 (Kim khánh giáo xứ).

Song song công trình tái thiết Nhà thờ, Cha chính xứ Giuse Trịnh Văn Viễn, Cha phụ tá Giuse Đỗ Mạnh Cường cùng cộng đoàn giáo dân xứ Bình An tiến hành xây dựng Hội Trường Giáo Xứ. Công trình khởi sự ngày 02 tháng 11 năm 2002 (diện tích 800m2). Ngày 05 tháng 6 năm 2004, giáo xứ long trọng trong Thánh lễ tạ ơn mừng hoàn thành tầng trệt và nhân dịp mừng Bổn Mạng giáo xứ năm 2005, lầu 1 được hoàn thành, chính thức đưa vào sử dụng. Hội Trường Giáo Xứ Bình An là trung tâm sinh hoạt không chỉ dành riêng cho giáo xứ mà cho cả toàn giáo hạt.

Năm 2002, trong khuôn viên Nhà thờ Bình An, cạnh Hội Trường Giáo Xứ, một dãy nhà trệt được xây dựng khang trang dành đón các nữ tu dòng Mến Thánh Giá Gò-vấp (gốc giáo phận Phát Diệm) về lập Cộng đoàn Mến Thánh Giá Bình An. Cơ sở gồm nhà nguyện, nhà sinh hoạt, sân chơi và nhà trẻ.

Ngoài cộng đoàn Mến Thánh Giá, hiện nay, giáo xứ Bình An còn thêm cộng đoàn tu hội nữa là Tu hội Tôi Tá Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Cơ sở văn hóa-xã hội:

Năm 1956, Cha chính xứ Phaolô Hoàng Quỳnh xây dựng ngôi trường đầu tiên trong khuôn viên Nhà thờ làm nơi học tập cho các con em trong giáo xứ. Có 10 phòng học trong hai dãy nhà ghép gỗ, lợp tôn cũ. Cha Giuse Đoàn Phi Hùng (phó xứ) được cử làm Hiệu trưởng, tiếp nhận 200 học sinh tiểu học.

Từ năm 1962 đến năm 1975, Cha Luca Trần Khánh Tích làm Hiệu trưởng, Thời gian này nhà trường không ngừng được nâng cấp về cơ sở vật chất, và ngôi trường trung tiểu học Đồng Tâm, khang trang, tiện nghi có thể tiếp nhận 2.000 học sinh trong khu vực không kể lương-giáo đến học tập, rèn luyện. Đó cũng là ngôi trường Tư thục Công giáo duy nhất của hạt Bình An ở cả 3 cấp: tiểu học, trung học đệ Nhất, đệ Nhị cấp.

Hiện nay trường trung tiểu học Đồng Tâm được đổi tên thành trường tiểu học Phạm Thế Hiển, dãy trường học 4 tầng lầu đã ngưng hoạt động nhiều năm nay vì xuống cấp trầm trọng, không thể sử dụng được nữa.

Năm 1966, Cũng trong việc phát triển giáo dục, Cha phó Giuse Đinh Công Huỳnh mở Trung Tâm Xã Hội, nhằm giúp cai nghiện ma túy và hướng nghiệp cho thanh thiếu niên bất kể trong ngoài giáo xứ. Ký nhi viện Bình An cũng được thành lập, tiếp nhận và nuôi giữ trẻ em trong-ngoài giáo xứ, giúp phụ huynh yên tâm lao động sản xuất. Trung tâm xã hội và Ký nhi viện đã ngưng hoạt động sau 1975.

Giáo dân Bình An vốn xuất thân là nông dân, sống cần mẫn, tiết kiệm và có tinh thần đoàn kết rất cao. Khi hội nhập nếp sống mới ở vùng đất hoàn toàn xa lạ, nhiều người đã thích ứng ngay với các nghề như: trồng lúa, đan lát, dệt chiếu cói, đánh bắt cá trên kênh rạch trong khu vực và các vùng phụ cận; Cũng trên nền hội nhập, nhiều người chuyển ngành nghề phù hợp với hoàn cảnh như công nhân viên chức, kinh doanh sản xuất… Cuộc sống ngày một phát triển, thăng hoa, việc đầu tư cho con cái ăn học được lưu tâm hàng đầu nơi các gia đình, và ngày nay, rất nhiều gia đình trong giáo xứ có con em trưởng thành ngoài xã hội với nhiều bậc học, nhiều lĩnh vực như: kinh tế, khoa học kỹ thuật, y học, tin học, văn hóa xã hội…

Mặc dù các gia đình trong giáo xứ xuất thân từ tầng lớp lao động, nhiều gia đình có cuộc sống trung bình, nhưng cũng nhiều gia đình phát triển kinh tế và có cuộc sống khá giả.

Do xã hội ngày một phát triển, trong nhiều năm gần đây, số lượng các gia đình Công giáo nhập cư, di dân tạm trú tại giáo xứ Bình An ngày một tăng. Đa phần các gia đình nhập cư di dân hành nghề tự do, một số buôn bán nhỏ, lao động tại các cơ sở sản xuất, cơ quan, xí nghiệp…với mức sống trung bình, một số ít gia đình nhập cư di dân có hoàn cảnh khó khăn phải nhờ đến sự trợ giúp của giáo xứ.

a/. Tôn giáo: Vốn là một cộng đoàn Công giáo truyền thống nên giáo xứ luôn có quí linh mục chăm sóc về mặt tinh thần. Các nghi thức phụng vụ trong giáo xứ luôn liên tục căn cứ theo lịch phụng vụ của Giáo hội. Ngoài các Thánh lễ như lễ an táng, lễ cưới, lễ ngoài giờ theo nhu cầu giáo dân, từ thứ hai đến thứ bảy, mỗi ngày có hai Thánh lễ sáng-chiều (04:30 và 17:15), chủ nhật có 5 Thánh lễ, 4 Thánh lễ dành cho người lớn (04:30, 06:00, 16:00, 18:00) và 1 Thánh lễ dành cho thiếu nhi lúc 07:30.

Việc dạy giáo lý, kinh bổn trước đây thường do các ông bà quản giáo trong giáo khu đảm trách, chủ yếu giúp các con em thiếu nhi trong giáo khu của mình chuẩn bị lãnh nhận Bí tích Thánh thể, Bí tích Thêm sức, kinh bổn còn được dạy trong các lớp học của trường Tư thục Công giáo trong mỗi giáo xứ. Hiện nay, do đời sống đức tin ngày một phát triển, việc dạy giáo lý cho các em thiếu nhi, các thanh thiếu niên, tân tòng đều do một ban chuyên môn đảm nhiệm dưới sự dẫn dắt của Cha xứ, quí soeurs, quí tu sĩ.

Đời sống đức tin còn được thể hiện sinh động qua các sinh hoạt trong giáo xứ như ngắm nguyện vào mùa chay, kiệu tháng hoa kính Đức Mẹ, kiệu Thánh Thể, lễ hội giáng sinh, sinh hoạt trại của các hội đoàn, tết trung thu…

Phát triển Ơn gọi Linh mục: để có nhiều nhân sự phục vụ trong cánh đồng truyền giáo, rất cần những thanh niên ưu tú, hạnh kiểm tốt và có tinh thần dấn thân. Cha chính-phó xứ luôn quan tâm và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho các thanh niên trong việc tìm hiểu ơn Thiên Triệu.

Từ ngày thành lập cho đến nay, giáo xứ đóng góp cho cánh đồng truyền giáo được

21 linh mục, 2 phó tế, 33 nữ tu, 10 nam tu sĩ và 5 dự tu nam.

b/. Xã hội: Các phương tiện truyền thông đại chúng, giao lưu văn hóa-kinh tế-khoa học kỹ thuật trong khu vực và thế giới ngày một phát triển. “Văn minh tiêu thụ” đã cải thiện nhiều mặt của cuộc sống nhưng lại là mối quan tâm lo lắng của quí Cha quản xứ và BTV HĐMV GX. Chính vì thế, việc giáo dục đức tin, rèn luyện nhân cách chủ yếu nơi giới trẻ luôn được quí Cha cập nhật trong các bài giảng lễ và trong công tác hoạt động thường ngày của BTV, BCH các họ, BQT các hội đoàn, đoàn thể, các ban, các giới cụ thể:

Trẻ hóa nhân sự trong các BCH

Khuyến khích giới trẻ chăm lo học tập rèn luyện

Quan tâm giúp đỡ các gia đình nghèo khó, neo đơn

Thường xuyên nhắc nhở, nâng đỡ các thành phần cá biệt trở lại với cộng đoàn như: nạn xì-ke ma túy, cờ bạc rượu chè, trộm cắp…

Nhìn lại chặng đường lịch sử của giáo xứ, bao công sức khó nhọc của các Đấng các Bậc, của cộng đoàn dân Chúa đã dày công vun đắp cả về tinh thần lẫn vật chất, để rồi từ “cánh đồng Bình An” nhiều hạt giống đã tỏa đi khắp nơi như một chứng nhân Tin Mừng của Chúa. Giáo xứ Bình An luôn cảm tạ Hồng ân Thiên Chúa, Đức Mẹ Mân Côi và các Thánh.

Xin tri ân quí Cha chính-phó xứ, quí soeurs, quí tu sĩ nam-nữ, quí chức tiền nhiệm, quí ân nhân xa gần và cộng đoàn dân Chúa giáo xứ Bình An. Trong tâm tình cậy trông phó thác, cộng đoàn giáo xứ dưới sự hướng dẫn, dìu dắt của Cha chính xứ, Cha phó xứ, quyết tâm canh tân đổi mới mọi sinh hoạt để giáo xứ luôn thăng tiến về mọi mặt, xứng đáng “là men là muối” giữa lương dân trên địa bàn đang sinh sống. Đúng tinh thần Đại hội dân Chúa năm 2010 “Hội Thánh phải đổi mới không ngừng để thực sự là Hội Thánh Chúa Kitô”.

Nguồn : http://saigon.titocovn.com/gxbinhan

Giờ Lễ Nhà Thờ Lý Sơn / 2023

Chi tiết giáo xứ

TÓM TẮT LỊCH SỬ GIÁO XỨ LÝ SƠN

Lý Sơn là một Hòn đảo, nằm về hướng đông bắc của tỉnh Quảng Ngãi, cách đất liền khoảng 28 cây số. Trước đây, Giáo xứ Lý Sơn là một giáo họ thuộc Giáo xứ Châu Ổ ( điểm truyền giáo Giáo Phận giao cho Dòng Chúa Cứu Thế phụ trách), nay được tách ra và trở thành Giáo xứ. Tinh thần và người phụ trách vẫn thuộc cộng đoàn Dòng Chúa Cứu Thế Châu Ổ.

” Hãy đi loan báo Tin Mừng cho muôn Dân!” ( Mt 28, 19).

I/ GIAI ĐOẠN KHAI MỞ ( 1959- 1965)

Năm 1959 Ông Dương Minh Giáng thành viên của CGTH Giáo hạt Quảng Ngãi đi tuyên phong trên đường truyền giáo tại đảo Lý Sơn. Năm 1961 ban CGTH Lý Sơn gồm các ông: Võ Xuân Thơ, Phạm Nên, Phạm Nữ, Bùi Đài… Nhà Nguyện được đặt tạm tại nhà ông Bùi Đài.

Một số anh chị em ở trại cãi huấn Quảng Ngãi, được ông Quản đốc Trần Quang Trung truyền giảng đạo Chúa, khi được trở về quê Lý Sơn, họ tự nguyện tham gia lo việc thờ phượng Chúa, trong số đó có Ông Nguyễn Tứ rất sốt sắng.

Đầu năm 1963 khởi công xây dựng nhà thờ. Mặt bằng để xây dựng nhà thờ lúc bấy giờ do chính quyền xã và đại diện Khu hành chánh Lý Sơn cấp cho Họ đạo.

Tháng 11/ 1963 tình hình đất nước biến động, việc xây dựng nhà thờ ngừng lại. Năm 1964 đất nhà thờ bị Chính quyền sử dụng làm trại định cư, Họ đạo đấu tranh ngăn chận thành công. Năm 1965: Cha Tôma Phạm Hữu Thiện DCCT được sai đến để chăm sóc Họ đạo. Cha Thiện lo tái thiết Nhà thờ. Tính tại thời điểm này số người tòng giáo là 500 người.

II/ GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN: ( 1966- 1973).

Năm 1966 Cha phêrô Nguyễn Hoàng Diệp DCCT đến quản nhiệm thay Cha Tôma Thiện. Năm 1966 xây dựng ngôi nhà thánh nhi làm cơ sở cho trường tiểu học Thăng Tiến. Thành lập trường tư thục tiểu học và trung học Thăng Tiến. Năm 1967 xây dựng cơ sở ( Nhà Bác Ái ) trường trung học Thăng Tiến. Công việc rao giảng tin mừng song song với công tác xã hội từ thiện, hoạt động phát triển. Tháng 6 năm 1967, Đức Cha Đaminh Hoàng Văn Đoàn Giám mục Giáo phận Quy Nhơn đến thăm, ban bí tích Thanh Tẩy và Thêm Sức cho một số anh chị em. Năm 1970, xây dựng nhà xứ. Năm 1972, xây Nhà nguyện trường học cho họ Bình Vĩnh nay là An Vĩnh.

III/ GIAI ĐOẠN THỬ THÁCH: ( 1974- 1992)

Năm 1974, Cha Micae Trương Văn Hành DCCT đến quản nhiệm thay Cha Hoàng Diệp. Ngài tiếp tục lo việc mục vụ và điều khiển hoạt động của trường trung, tiểu học Thăng Tiến.

Đầu năm 1975 ( 31/3/1975 ), Chính quyền mới tiếp quản đảo Lý Sơn. Đời sống đạo gặp nhiều khó khăn. Trường Thăng Tiến ngừng hoạt động.

Các cơ sở như Nhà xứ, trường học bị Chính quyền mượn sử dụng: dạy học, đóng quân, chứa lương thực, chứa hàng thương nghiệp… ngôi nhà nguyện trường học tại thôn đông xã Bình Vĩnh nay là xã An Vĩnh Chính quyền xã cũng mượn dạy học.

Ngày 18 tháng 9 năm 1978, Chính quyền buộc Cha Hành phải rời Lý Sơn vào Châu Ổ. Một số giáo dân bị đưa đi vùng kinh tế mới, một số khác tìm vào miền Nam làm ăn sinh sống.

Chính quyền quản lý toàn bộ cơ sở của Họ đạo Lý Sơn, nhà thờ thì làm kho chứa lương thực và sau cho tư nhân thuê chiếu phim vedéo.

IV/ GIAI ĐOẠN TÁI HOẠT ĐỘNG VÀ TRƯỞNG THÀNH: ( Từ tháng 6/ 1992)

Tháng 6 năm 1992, một số gia đình giáo dân tụ họp đọc kinh chung tại nhà ông Giacôbê Bùi Giới

Cộng đoàn gửi thỉnh nguyện thư đến các cấp chính quyền xã, huyện, tỉnh và trung ương ( Chính phủ ) xin giao trả nhà thờ để Họ đạo lo việc thờ phượng.

Thời điểm này việc sinh hoạt của cộng đoàn Họ đạo do Cha G.B Nguyễn Thế Thiệp dìu dắt và lo liệu. Vì lúc bấy giờ Cha Hành bị bệnh đang điều trị tại Ý ( Roma).

Ngày 18 tháng 11 năm 1993, Đức Giáo Hoàng Gioan phaolô II ban phép lành Tòa thánh cho cộng đoàn Họ đạo Lý Sơn.

Ngày 16 tháng 12 năm 1993, lúc 8 giờ 30 phút, Chính quyền tại Lý Sơn chính thức giao trả nhà thờ cho Họ đạo.

Cuối năm 1993, Cha Hành lành bệnh và trở về Việt Nam.

Đầu năm 1994: ( nhằm 4/1- G tuất ) đáp ứng nguyện vọng của Giáo dân, chính quyền tỉnh Quảng Ngãi chấp thuận để Cha Hành đến Đảo Lý Sơn thăm Giáo dân và dâng Thánh lễ nhân ngày đầu năm âm lịch Giáp Tuất.

Giai đoạn này, Cha Hành thỉnh thoảng xin được phép ra Lý Sơn làm mục vụ, phải sau một thời gian mới được tạm trú. Ngài tu sửa nhà thờ, nhà xứ, xây dựng lại đời sống đạo của đoàn chiên sau thời gian dài ly loạn.

Tháng 7 năm 1995, Họ đạo Lý Sơn được Đức Cha phaolô Huỳnh Đông Các, Giám mục Giáo phận Quy Nhơn nâng lên thành Giáo xứ thứ 34 của Giáo phận.

Ngày 22 tháng 8 năm 1996, nhân lễ Đức Maria Nữ Vương, Cha Tổng đại diện Phêrô Nguyễn Soạn thay mặt Đức Giám Mục đến thăm và chủ lễ ban bí tích Thêm Sức cho một số giáo dân.

Cha Micae Trương Văn Hành chú tâm vào việc giáo dục, ngài tổ chức chương trình khuyến học bằng nhiều hình thức như: trợ cấp học bổng, tặng phương tiện học tập… Nhờ vậy, Giáo xứ tuy nghèo nhưng con em trong Giáo xứ có người đỗ đạt cao.

Năm 1988, thầy Anrê Nguyễn Ngọc Dũng, tu sĩ DCCT, ra đảo giúp Cha Hành.

Năm 2005 Cha Phêrô Phạm Đức Thanh, Lm DCCT Sài Gòn, tự nguyện ra đảo thay Cha Micae Trương Văn Hành vì tình trạng sức khoẻ của ngài xuống cấp. Cha Thanh vốn là giáo viên nên ngài cũng chú tâm vào việc giáo dục văn hoá. Hàng năm, đến dịp hè ngài mở lớp dạy học cho các em cấp II và III không phân biệt lương giáo.

Sau 5 năm phục vụ, do tình trạng sức khoẻ, Cha Thanh muốn vào đất liền vì thế cần có người thay ngài.

Ngày 21 tháng 9 năm 2010, Cha Giuse Nguyễn Quốc Việt và thầy Phêrô Đinh Văn Lượng được Nhà Dòng bổ nhiệm ra đảo phục vụ.

Ngày 08 tháng 7 năm 2011, Đức Giám Mục Phêrô Nguyễn Soạn viết văn thư bổ nhiệm Linh mục Giuse Nguyễn Quốc Việt làm Linh mục chánh xứ Giáo xứ Lý Sơn.

Nguồn : LM. Giuse Trương Đình Hiền 7/11/2012 – VietCatholic

Giáo xứ Lý Sơn nhiều thời để nhớ

Đảo Lý Sơn một thời cách trở vì biển rộng sóng cao. Những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, hạt giống đức tin được gieo xuống từ người giáo dân ra đảo làm nghề thuốc. Ông xin chủ nhà trọ lập bàn thờ Chúa vì là người Công Giáo. Cung cách ông cầu nguyện, lời kinh ông khẩn nài, cuôc sống là chứng tá đã làm gia đình ngoại giáo nơi ông xin trọ tin theo. Thời ấy hoàn cảnh xã hội thuận lợi như “mưa thuận giá hoà” nên cây đâm chồi nẩy lộc; chỉ thời gian ngắn Lý Sơn thành giáo điểm, có đất làm nhà nguyện, thỉnh thoảng cha tuyên uý từ Quảng Ngãi ra dâng lễ. Sau biến cố đảo chính năm 1963, cộng đoàn nhỏ vừa mới qui tụ chưa được thành hình đã có nguy cơ tan rã vì chính quyền mới muốn thu hồi đất để làm trại gia binh. Thế rồi cũng qua, vẫn giữ được đất, điều đáng nói là chính những người đạo mới, tuổi đức tin còn ít mà chất đức tin đã trưởng thành, đứng ra chèo chống. Nhớ hồi mới ra đảo, nghe câu chuyện thời khai sinh, ngỡ ngàng về sự can trường sống đạo của những người tín hữu đầu tiên. Tôi băn khoăn tự hỏi nhờ đâu mà chỉ thời gian ngắn họ thành trụ cột? Cũng có câu trả lời, nhưng ở lâu, ngang qua những chuyện con người lại thấy rõ bóng giáng Chúa Giêsu, đúng như lời Ngài đã hứa: hãy làm cho muôn dân trở thành môn đệ, Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (x. Mt 28,16-20). Sống đức tin có nhiều cách nhưng khi ta truyền giáo là biết chắc có Chúa Giêsu ở cùng.

Đến năm 1965, thời điểm Việt Nam hóa chiến tranh, Mỹ đổ quân vào căn cứ Chu Lai, vùng đất Quảng Ngãi trở thành dầu sôi lửa bỏng, chỉ có ban ngày tạm bình yên, đêm về là tiếng súng nổ, người chết nhanh như bây giờ bị tai nạn giao thông. Trong hoàn cảnh đó, DCCT Châu Ổ được Giáo phận giao thêm trách nhiệm truyền giáo đảo Lý Sơn. Cha Tôma Thiện một mình ra đảo, chặt lá dừa làm lán, chuyện truyền giáo có vẽ rất thơ, giữa biển xanh cát trắng[1], người truyền giáo như chàng nghệ sĩ phiêu lãng với tình yêu đầy khát vọng là ơn cứu rỗi các linh hồn. Cha Tôma ra đảo chưa được một năm, Tỉnh Dòng gọi vào đất liền đi Pháp để chuẩn bị cho sứ vụ mới. Năm 1966, cha nhạc sĩ Phêrô Nguyễn Hoàng Diệp ra đảo. Ngài người gốc Huế, mảnh mai thanh cảnh, tưởng là cơ bắp không đủ sức đứng mũi chịu sào, giữa đầu sóng ngọn gió. Vậy mà ngài là người có công đặt nền cho việc truyền giáo trên đất đảo Lý Sơn. Đúng là : “Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm” (2Sm 16,7).

Cha Phêrô ở đảo, có các thầy Học Viện trong thời gian thực tập đến giúp, có cả những người giao dân đất liền vượt biển ra cộng tác. Phải chăng ngọn gió Công Đồng Vaticanô II vượt biển Đông thổi tới, đem tinh thần Sắc lệnh “Tông đồ giáo dân”[2] còn tươi chưa ráo mực vào đảo nên tại Lý Sơn có một cộng đoàn tu sĩ và giáo dân hăng say truyền giáo.

Không chỉ đem Chúa đến cho người dân xứ đảo, cha Phêrô Nguyễn Hoàng Diệp có công rất lớn trong việc giáo dục, khai sáng văn hoá. Ngài lập các đoàn thể cho các giới, tổ chức sinh hoạt dưới nhiều hình thức như diễn văn nghệ, cắm trại, giao lưu… Ngài là người đầu tiên mở trường dạy học cho con em trên đảo không phân biệt tôn giáo. Trước khi ra đảo thực hiện sứ vụ truyền giáo, cha Phêrô lo việc đào tạo cấp đệ tử của Nhà Dòng, vì thế, thật dễ hiểu khi thấy ngài đặt việc giáo dục lên hàng đầu. Ngài mở trường, đưa các thầy, cô từ đất liền ra để cùng với ngài và các thầy Học Viện chuyên chăm dạy dỗ các em từ tiểu học đến trung học đệ nhất cấp, theo cách gọi thời đó, tương đương với bây giờ là cấp I và II. Thời gian trôi qua, thời cuộc xoá nhoà, người Công Giáo bây giờ chỉ là một nhóm nhỏ giữa 22 ngàn dân trên đảo, không mấy người biết cộng đồng ấy đã đóng góp gì cho sự phát triển của huyện đảo Lý Sơn. Dẫu thế, thỉnh thoảng đi dự đám giỗ, tôi được nghe những người có tuổi kể chuyện năm xưa, họ nhận mình là học sinh trường Thăng Tiến. Trong cách kể thoáng thấy họ tự hào, nhắc lại cha Hoàng Diệp hay các thầy họ tỏ lòng kính trọng. Nhiều người trong số họ từng nắm giữ chức vụ lãnh đạo. Có người trong một lần chuyện trò bộc bạch cho biết: nếu không có những lớp học của trường Thăng Tiến thì mình đâu có cơ hội để được như ngày hôm nay.

Trường Thăng Tiên được xây trong khuôn viên nhà thờ tại xã An Hải, cùng với trường là nhà Bác Ái. Khi con số giáo dân mỗi ngày thêm đông, có các gia đình ở xã An Vĩnh trở lại, năm 1972 ngài vận động bà con dâng cúng, góp tiền mua đất xây nhà nguyện nhưng đồng thời cũng làm trường học, vì nhu cầu giáo dục quá lớn trong khi cơ sở vật chất cả đời lẫn đạo chăng có gì. Tiếc là ngày nay, khuôn viên nhà nguyện và trường học ở An Vĩnh biến thành chợ, ngôi nhà ngày xưa được sử dụng làm nơi thờ phượng, mở mang dân trí đã từ lâu trở thành hoang phế. Do được mượn mà không trả nó mới ra nông nỗi này! Đã qua ba đời quản xứ, không biết bao lần gởi đơn xin lại nhưng đến nay vẫn chưa nhúc nhích gì. Hy vọng đến một lúc, người ta mạnh dạn quyết điều hầu như ai cũng biết: để phát triển đất nước ổn định cần phải có công bằng, nói rằng mình văn minh thì tối thiểu sự công bằng phải có. Qua rồi thời mạnh được yếu thua, bây giờ toàn cầu hoá, ….

Cha Hoàng Diệp hoàn thiện nhà thờ, xây nhà xứ, đến nay nhà thờ đã được xây mới nhưng nhà xứ sau khi được phục hồi thời cha Micae Trương Văn Hành, bây giờ vẫn còn chắc chắn và hợp thời. Năm 1974, Việt Nam sắp đến hồi thống nhất, chiến sự diễn ra ác liệt ở vùng Thừa Thiên, cơn sóng di tản vào Nam ngày càng nhiều. Nhà Dòng Huế một thời đông đúc giờ chỉ còn mỗi cha Lành và thầy Tađê, cha Hoàng Diệp nhận bài sai mới rời đảo ra phục vụ ở Huế. Trong lúc người ta đua nhau đi vào cha lại đi ra, đó cũng là một hành động anh hùng, đầy hy sinh vâng phục của người tu sĩ thừa sai truyền giáo. Về Cố đô lo việc Nhà Dòng, mục vụ giáo xứ nhưng lửa truyền giáo trong ngài không hề can, ngày cả khi về già, ngài cố diễn tả nội dung Kinh Thánh dưới dạng thơ, in thành tập nhỏ tựa đề là “Trong ánh Tin Mừng” nhằm giới thiệu Chúa cho những người chưa có đức tin. Ngài đi, cha Micae ra tiếp nối công việc truyền giáo. Nếu thời của cha Phêrô Nguyễn Hoàng Diệp là “làm” thì có thể nói thời cha Micae Trương Văn Hành là “chịu”!

Ngài chịu cảnh ra đảo một mình không người cộng tác, vì chiến tranh nên không còn ai tình nguyện ra Châu Ổ, trung tâm truyền giáo[3] chỉ còn ba cha ở lại, mỗi vị trụ một nơi và được quyền tự do rời nhiệm sở bất cứ lúc nào.

Nhớ mùa mưa đầu tiên ở đảo, chẳng hiểu vì sao gió lớn tựa như bão thường hay về trong đêm. Nằm nghe luồng gió đi, khi còn xa là tiếng hú đã về, rồi khi gió qua nhà, tiếng giật, rung rất mạnh ngỡ như nó muốn bưng mái nhà quăng xuống đất. Nhà thờ sát biển, chung quanh lại trống nên mỗi lần như thế đều có cảm giác trơ trọi làm mình lo, rất mong trời mau sáng. Những lúc ấy thường không ngủ được, chợt nghĩ về cha Hành suốt gần mười lăm năm phải chịu ở một mình trên đảo, trống trãi hơn bây giờ gấp bội, thấy thương! Sự hy sinh của cha anh đi trước quả là rất lớn. Bây giờ ta có làm được gì, giá trị của sự hy sinh cũng không thể so sánh với các ngài thời đó, hơn nữa, bây giờ ta có làm được gì cũng là nhờ đã có những hy sinh âm thầm như ra đảo một mình của cha Micae.

Sau thống nhất, do chưa hiểu nhau giữa Chính quyền mới và người Công Giáo, ngài chịu cảnh sống bị nghi kỵ, giáo dân bị ngăn cản khi đến với ngài. Ở Lý Sơn mùa hè biển rất êm, sang tháng 9 mùa mưa về trên đảo thường kéo theo những vụ áp thấp làm thành bão. Đây là mùa biển động, mùa nhiều lo lắng vì năm nào cũng có người ra đi mãi không về, những cái chết trẻ để lại cảnh mẹ goá con côi. Mùa mưa năm 1978, người Công Giáo trên đảo từ lo biến thành sợ, do không còn chổ dựa tinh thần, không còn nơi đặt niềm trông cậy trước những biến động thời cuộc nhanh mạnh như động đất gây sóng thần. Ngày 18 tháng 9, cha Micae Trương Văn Hành bị trục xuất khỏi đảo vào đất liền sống tại Nhà Châu Ô, chịu cảnh người mục tử không có đoàn chiên, phải làm nghề nông trồng thuốc lá. Với xã hội thời đó, chưa biết tác hại của thuốc lá nên hút thuốc là bình thường, chứ không như bây giờ đi đâu cũng thấy “No Smoking”. Hơn mười năm làm nông, lấy phân chuồng bón cây cha bị nhiễm virus Aspergillus gây ra chứng nấm phổi. Từ ngày cha Micae bị buộc phải rời khỏi đảo, đàn chiên tan tác vì chính sách kinh tế mới, đưa dân đảo Lý Sơn lên sinh sống trên vùng núi huyện Trà Bồng. Nhà thờ thành trường học, có lúc được dùng làm cơ sở của công tác xã hội như nhà chiếu phim, nhà kho…

Hơn bốn năm ở kinh tế mới, người Công Giáo Lý Sơn sống không nỗi trên rừng núi Trà Bồng dắt dìu nhau về đảo. Chính Quyền cũng thương dân, có lẽ đã thấy không cho người ta về chẳng khác gì đẩy người ta vào chổ chết nên làm ngơ. Về đảo bắt đầu lại từ số không, bà con giáo dân hàng tuần tụ họp lại tại ngôi nhà ngày xưa bàn thờ Chúa lần đầu tiên được lập trong gia đình ngoại giáo. Đến mùa vọng năm 1993, đúng như ý nghĩa của mùa lễ, mùa dân Chúa chờ đợi Đấng Thiên Sai, niềm vui bất ngờ đến sớm, một người giáo dân cẩn thận ghi chép : “Ngày 16 tháng 12 năm 1993, lúc 8 giờ 30 phút, Nhà thờ Lý Sơn được trao trả lại cho Họ Đạo.” Lễ Giáng Sinh năm đó dù chưa có cha xứ ra dâng lễ, bà con tự tổ chức phụng vụ Lời Chúa với nhau, nhưng có lẽ, hơn bao giờ hết lời ngôn sứ Isaia trong bài đọc một của lễ đêm mừng Chúa Giáng Sinh đúng nghĩa là lời Chúa đang nói với họ: “Đoàn dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng ; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi…” (Is 9,1). Không linh mục chỉ có người giáo dân gieo hạt giống đức tin đầu tiên vào xứ đảo; không linh mục chỉ có người giáo dân giữ cộng đoàn và dành lại nhà Chúa. Quá tuyệt vời! Đây chính là điểm đặc biệt của giáo xứ Lý Sơn. Tôi nghiền ngẫm điều này. Trong một lần băn khoăn làm sao để đoàn chiên thêm đông số, thoáng thấy bi quan nhưng liền tan biến khi chợt nhận ra: chính Chúa gieo, chính Chúa gìn giữ thì chắc chắn Chúa sẽ cho lớn lên.

Đầu năm 1994, Chính Quyền cho cha Micae trở lại đảo Lý Sơn dưới dạng tạm trú. Ngài trở về với đoàn chiên khi phổi chỉ còn một lá, người gầy ngỡ như không vững mỗi khi gió lớn về, đường từ Châu Ổ ra bến cảng mùa mưa lầy lội. Lấy lại được nhà thờ nhưng nhà xứ thì chưa, trong căn phòng nhỏ phía sau nhà thờ rộng chừng 36 m2, vừa là phòng áo, phòng kho, vừa là nơi dành cho mọi sinh hoạt của ngài. Xem lại chồng ảnh cũ, thấy cảnh ngài phát quà cho dân, hay đứng nhìn bà con giáo dân tập trung về nhà thờ mổ heo mừng lễ, cảnh dọn lại nhà sau đêm mưa bão… tôi thấy ngài như người mẹ, cộng đoàn nhỏ như một gia đình. Tháng 7 năm 1995, Đức Cha Phaolô Huỳnh Đông Các nâng họ đạo Lý Sơn lên hàng giáo xứ, mở ra một giai đoạn mới nhưng cũng đầy gian lao, phải nhiều năm sau toàn bộ đất nhà thờ, nhà xứ mới được trả hết. Ai đã từng trải qua tình trạng đứng nhìn tài sản của mình bị người ta chiếm đoạt, sử dụng tuỳ ý trong khi gia đình mình thiếu đói mới có thể hiểu hết sức chịu đựng của cha Micae, trong thời gian đầu trở lại đảo sau nhiều năm xa cách.

Kể lại chuyện cũ để thấy việc Chúa làm. Ngày xưa Chúa Giêsu nói với thánh Phaolô Tông đồ: “Ơn của Thầy có đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2Cr 12,9). Ở Lý Sơn, thời cha Micae, lời Chúa đã nói thành ứng nghiệm. Với một lá phổi, sức khoẻ mong manh, một mình cô độc, cuộc sống khó khăn từ mọi phía: thiếu thốn về vật chất, tinh thần bị o ép, lo cho giáo dân không chỉ phương diện đức tin mà còn trợ giúp cuộc sống nghèo khổ bệnh tật của họ nữa, vậy mà cha vui vẻ chu toàn. Đúng là “sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Cha Micae đã dọn đường thênh thang cho lớp trẻ tiếp nối. Năm 2005, cha Phêrô Phạm Đức Thanh ra thay ngài. Cha Thanh dân sư phạm, ngài chú trọng việc giáo dục nên mở lớp dạy thêm miễn phí, nhất là vào mùa hè, con em trên đảo cả lương lẫn giáo kéo về nhà thờ học rất đông. Đây là điểm son trong năm năm ngài làm quản xứ. Trung Thu năm 2010 tôi ra thay cha Thanh, nhìn cách ngài sinh hoạt với các em theo lối vừa chơi vừa học, rất hay. Tôi buột miệng nói : anh xuất “chiêu” kiểu này em còn vốn đâu nữa để theo.

Thấm thoát đã 50 mươi năm trôi qua, biết bao dâu bể, mồ hôi và nước mắt, có lúc tưởng rằng mất trắng, xoá sạch, chấm hết, đến lúc không còn gì lại bổng thấy hồi sinh, như một phép mầu, ngỡ ngàng nhận ra quả đúng như lời Chúa Giêsu đã nói : “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.” Vì chỉ có Chúa ở cùng mới làm nên điều kỳ diệu như cộng đoàn giáo xứ Lý Sơn đang có hôm nay, chứ sức con người chắc chắn là không thể [4]. Chúa đã ban ơn bằng cách cho Hội Thánh trong thời thử thách có các Đức Giám Mục đầy khôn ngoan, Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế quãng đại gởi đến các mục tử cháy lửa nhiệt thành, sống chết với đàn chiên, bám trụ đến cùng như dân chài bám biển. Vì thế, tuy xa xôi cách trở, thiếu thốn tứ bề, Lý Sơn được diễm phúc thành giáo xứ, thành chị thành em trong gia đình Giáo phận đến bây giờ vừa trọn tuổi 20.

Ngày lễ như một cuốn phim cho ta nhớ lại từng khuôn mặt thân thương, ngòi bút này không đủ tài làm nổi bật những đường nét đặc biệt cho độc giả cảm nghiệm được hồn Tông đồ truyền giáo là gì. Ngang qua bao biến cố cuối cùng nhận thấy đời truyền giáo khi thuận lợi thì vui, lúc thử thất gian lao lại nếm được Chúa yêu mình biết mấy. Đi qua chặng đường dài nhìn lại chỉ có lời tạ ơn là tất cả. Tạ ơn Chúa, cám ơn người dù người đó là ai. Tạ ơn Chúa vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương, đến ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế nên hành trình truyền giáo không hề thiếu ơn, do đó, đoạn kết bao giờ cũng có hậu. Cám ơn anh đã giúp, chúng tôi có điều kiện say sưa làm việc trong cánh đồng Nước trời. Cám ơn chị làm khó, nhờ vậy chúng tôi biết nguyện cầu và có bằng chứng để nói Chúa đã đến giúp chúng tôi. Xin Chúa tuôn đổ muôn phúc lành xuống trên các vị chủ chăn trong suốt 50 năm loan báo Tin Mừng, và 20 năm thành lập giáo xứ, đã dấn thân phục vụ về đời sống đức tin và văn hoá. Xin Chúa trả công bội hậu cho tất cả Quý ân nhân đã giúp đỡ giáo xứ Lý Sơn từ việc nhỏ đến việc lớn, qua bao tháng năm dài để hôm nay kết tụ lại một toà hồng ân.

Ngày lễ tạ ơn, trước mặt là Đức Cha Matthêu, Cha Hạt trưởng Hạt Quảng Ngãi, Quý Cha Bề trên, Quý Cha, Quý tu sĩ nam nữ, Quý cấp Chính quyền, Quý khách thuộc tôn giáo bạn và cộng đoàn tôi nghĩ : với Đức Cha là hiền phụ, mỗi người là một món quà Chúa gởi đến cho giáo xứ Lý Sơn trong ngày đặc biệt này. Như ca từ của một bài hát cất lên: “Ngày hồng phúc Chúa ơi…” Vâng! Hôm nay, đối với giáo xứ Lý Sơn thật là hồng phúc, ngày của những kỷ niệm, và là ngày của hồng ân. Giáo xứ có chủ chăn mới, có những người con ngoan vừa được Đức Cha ban bí tích Thêm Sức. Xin chúc mừng giáo xứ Lý Sơn! Xin chúc giáo xứ Lý Sơn được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần, để cùng đồng hành với toàn Giáo Phận nỗ lực hết sức mình chiếu toả niềm tin, đặc biệt cho những người chưa được biết Chúa.

Tác giả bài viết: Lm. Giuse Nguyễn Quốc ViệtNguồn tin: quangngaicatholic

Giờ Lễ Nhà Thờ Bình Lợi / 2023

Chi tiết giáo xứ

Bình Lợi, vùng đất có tên gọi đó tôi không biết từ lúc nào, vùng đất mà tôi được biết là vùng trũng, trồng lúa và rất giống một vùng nông thôn, cuộc sống của nhiều người dân ở đây là người di cư, Bình Lợi là một thành phần của phường 13 Quận Bình Thạnh, là điểm kết của Bình Thạnh nối liền Gò Vấp. Nhà thờ Bình Lợi nằm tọa lạc mép sông Sài gòn, nơi đang trong tiềm năng phát triển về nhiều mặt, đặc biệt là kinh tế, người dân ở đây là người tứ xứ, điều đó đã tạo nên một Bình Lợi rất năng động và bây giờ đã thực sự là một khu phố đang trong đà phát triển. cuộc sống tôn giáo ở đây cũng thế, tuy là một Giáo xứ còn non trẻ thuộc Hạt Gia Định nhưng cũng đã có nhiều tổ chức và hoạt dộng của các hội đoàn: Sinh hoạt cho những người làm ăn xa quê hằng tháng vào tuần thứ 4, có các hội đoàn: Giới trẻ Con Đức Mẹ, Dòng Ba Đa Minh. Hội Lòng Chúa Thương Xót… các hoạt động của giáo xứ, về lễ ngày thường thì có 2 lễ là sáng 5 giờ và chiều là 17 giờ. Chúa nhật có tới ba lễ, lễ nhất vào lúc: 5 giờ, lễ nhì vào lúc: 8 gờ, sau giờ học giáo lý và lễ ba vào lúc 17 giờ. Ngoài ra chiều thứ bảy hàng tuần có làm việc kính Đức Mẹ sau giờ lễ 17 giờ.

Bổn mạng giáo xứ: ngày lễ Mẹ Thiên Chúa, 01-01

Giải tội: sau giờ lễ sáng các ngày trong tuần (5:45) Giáo lý Hôn Nhân: từ thứ 2-7 vào lúc 19:30-21:00 Giáo lý Sống Đạo: ngày Chủ Nhật vào lúc 6:30-7:30

Chầu Thánh Thể: thứ 6 đầu tháng Giờ Lần Chuỗi Mân Côi- 18:00 tối thứ Bảy

Giờ sinh hoạt các hội đoàn và ca đoàn trong giáo xứ:

Hội đoàn Lagiô- sinh hoạt 18:00 tối thứ 2 hàng tuần Giòng Ba Đa Minh- sinh hoạt 18:00 tối thứ 4 hàng tuần Nhóm trẻ con Đức Mẹ Bình Lợi- sinh hoạt 18:30 CN Nhóm Lòng Thương Xót Chúa- sinh hoạt 15:00 các ngày trong tuần Nhóm Lễ Sinh- sinh hoạt vào CN đầu tháng

Ca đoàn Phục Sinh- tập hát vào thứ 4, 6 lúc 19:30-20:45, hát lễ chiều thứ Bảy, chiều Chủ Nhật. Ca đoàn Vô Nhiễm- tập hát thứ 5, 7 lúc 19:30-20:45, hát lễ chiều thứ Sáu, sáng Chủ Nhật. Ca đoàn thiên thần: tập hát 18:00-19:30 CN, hát lễ chiều thứ Năm và lễ 8:00 sáng CN

Nguồn : http://titocovn.com/

Giờ Lễ Nhà Thờ Tân Thái Sơn / 2023

Chi tiết giáo xứ

Cộng tác với Cha Đa minh trong thời gian này là Các ông: Giuse Đặng Bàn và ông Gioan Baotixita Vũ Cật.

Năm 1957, trại định cư Tân Nhì được Đức Giám mục Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền – Giám Mục Sài Sòn – nâng lên hàng giáo xứ, lấy tên Giáo xứ Tân Thái Sơn, thuộc hạt Phú Bình, chọn Thánh Gia Thất làm bổn mạng Giáo xứ và cha Đa Minh Trần Khắc Thiệu là linh mục chánh xứ tiên khởi.

Cơ cấu Giáo xứ được phân định thành 4 khu, Ban Chức việc gồm: Ông Phêrô Vũ Ngôn, Ông Giuse Trần Tiến Đạt (Ông trùm Huynh), Ông Augustinô Hoàng Bão làm thư ký

Cuối Năm 1958, Cha Đaminh Trần Khắc Thiệu tiếp tục dẫn một phần giáo dân ra khai khẩn tại Phước Long, Trong thời gian này (1959), số giáo dân ở lại tạm thời được Cha Già Triêm và Cha Già Chấn thường xuyên đến giúp đỡ về phụng vụ.

Các giai đoạn phát triển:

Năm 1960, Tòa Giám Mục Sài gòn đã bổ nhiệm Cha An tôn Trịnh Ngọc Văn làm Chánh xứ. Cha Antôn tiếp tục mua thêm đất nới rộng diện tích Giáo xứ. Cơ cấu giáo xứ được rút lại thành 3 khu.

* Ở Nhiệm kỳ đầu (1960-1965) Ban Chức việc gồm: Ông Đaminh Vũ Liêu (Ông Rự) làm Chánh Trương, Ông Đaminh Nguyễn Đắc và Ông Antôn Đinh Mão làm Phó Chánh Trương. Trong thời kỳ này, Cha Chánh xứ Antôn cho sửa lại ngôi nhà thờ lớn hơn bằng khung sắt tiền chế thay cho ngôi nhà thờ lúc ban đầu.

* Nhiệm kỳ kế tiếp (1965 – 1970) Ông Chánh Rự nghỉ, Ông Đaminh Nguyễn Đắc lên làm Chánh Trương, Ông Antôn Đinh Mão và Ông Gioan B Vũ Luyện làm Phó Chánh Trương. Ông Giuse Nguyễn Tiêm làm thư ký.

* Nhiệm kỳ tiếp theo (1970 – 1975) Ông Đaminh Nguyễn Đắc làm Chánh Trương, Ông Gioan B. Vũ Luyện làm Phó Chánh Trương, Ông Antôn Đinh Mão làm thủ quỹ, Ông Giuse Nguyễn Tiêm làm Thư ký, Ông Gioan B. Nguyễn Kiểm làm trưởng ban phụng vụ.

Năm 1970, Cha Antôn Trịnh Ngọc Văn tổ chức xây dựng nhà thờ kiên cố bằng bêtông cốt thép,với điện tích dài 37m, ngang 10m, cao 15m, khánh thành tháng 4 năm 1972.

Biến cố 30/04/1975, mọi cơ cấu sinh hoạt phụng vụ của giáo xứ được giữ nguyên.

Năm 1976, Tòa Giám Mục Sài gòn bổ nhiệm Cha Đaminh Bùi Quang Tuyến làm Chánh xứ, mọi Cơ cấu tổ chức Giáo xứ vẫn được giữ nguyên đến năm 1979;

Ông Gioan B. Vũ Cật được bầu làm Chánh Trương, Ông Giuse Phạm Đắc được bầu làm Phó Chánh trương, Ông Gioan B. Vũ Truyền làm thư ký kiêm trưởng Ban Phụng Vụ.

Trong thời gian này, cùng hòa nhập với cuộc sống sinh hoạt bên ngoài xã hội sau biến cố 1975, Cha Chánh xứ Đaminh đã dần dần củng cố lại những sinh hoạt trong giáo xứ. xây dựng lại cơ cấu tổ chức Giáo xứ, phân chia và hướng dẫn sinh hoạt theo từng giới, củng cố về giáo lý cho Thiếu nhi theo từng độ tuổi. gầy dựng lại sinh hoạt của một số đoàn thể gia đình cầu nguyện như Dòng Ba Đaminh, Phạt tạ Thánh Tâm, Tôn Nữ Vương, Legio, Tận Hiến, Phúc âm, gioan tương trợ…..

Về cơ sở vật chất, năm 1981, mua chuông và xây dựng tháp chuông. Những năm sau đó, xây dựng tường bao và đổ bê tông mặt sân chung quanh khuân viên nhà thờ.

(năm 1987, Ông Giuse Phạm Đắc qua đời, Ông Gioan B. Vũ Chi được đề cử làm Phó Chánh Trương)

Năm 1991, Tòa Giám Mục bổ nhiệm Cha Gioan Baotixita Nguyễn Văn Thục về làm Chánh xứ, Cơ cấu mọi sinh hoạt của Giáo xứ vẫn được giữ nguyên 03 Giáo khu;

Ông Gioan B.Vũ Cật làm Chánh Trương, Ông Gioan B.Vũ Chi làm Phó Chánh trương, Ông Gioan B.Vũ Truyền làm thư ký, Ông Gioan Trần Trấn (Ông Tới) làm trưởng Ban Phụng Vụ.

Về cơ sở vật chất, ngay trong năm 1991 này, Cha Chánh xứ Gioan Baotixia cho sửa lại , nới rộng và nâng cấp gian Cung Thánh trong nhà thờ. Dỡ bỏ hai dãy nhà trước sân nhà thờ (do Chính quyền địa phương trả lại cho Giáo xứ) để mở rông khuân viên nhà thờ. Mở hẻm nối giữa nhà thờ (đường Nguyễn Lộ Trạch hiện nay) và Dòng MTG Tân Việt (đường Lê Sát hiện nay). Xây dựng Phòng Họp và Phòng khách HĐMV Giáo xứ. Cuối năm 1992, Cha Chánh xứ tổ chức Thánh Lễ đặt Viên Đá xây dựng lại nhà thờ mới trên nền móng nhà thờ cũ, Nhưng vì nhu cầu mục vụ của Giáo Phận, Tòa giám mục đã thuyên chuyển Ngài về làm Chánh xứ Tân Chí Linh, do đó, Công trình xây dựng lại nhà thờ mới chưa thực hiện được.

Năm 1994, Tòa Giám Mục bổ nhiệm Cha Giuse Maria Đinh Cao Tùng về làm Chánh xứ . Theo đà phát triển chung của xã hội, cộng thêm thành phần di dân, dân số giáo xứ tăng đột biến. Cha Chánh xứ Giuse Maria đã ngỏ ý, và Tòa Giám Mục bổ nhiệm Cha Phêrô Nguyễn Quốc Túy (cũng là Nghĩa Tử của Cha Giuse Maria) về làm Phụ tá.

Ông Gioan B. Vũ Cật làm Chánh Trương kiêm thủ quỹ, Ông Gioan B. Vũ Chi làm Phó Chánh Trương, Ông Gioan B. Vũ Truyền làm Thư ký, Ông Gioan Trần Trấn làm Trưởng Ban Phụng vụ.

Cơ cấu Giáo xứ được thay đổi, củng cố và phát triển về các mặt như tổ chức các Giáo Họ, hình thành Ban Điều Hành các Giáo Họ, phân chia lịch sinh hoạt mục vụ cho các đoàn thể, trong công tác bác ái xã hội, giáo xứ chú ý đến thành phần giáo dân di dân, giúp họ có điều kiện sống tốt hơn; chăm lo việc giáo dục như phát học bổng, mở lớp học ngoại ngữ, dậy cắt may và dậy vi tính.

Về cơ sở vật chất, Khai thông đường số 6 (đường nguyễn lộ Trạch hiện nay) năm 1996 xây dựng lại Nhà xứ mới, xây dựng Nhà Sinh Hoạt với quy mô 01 trệt 03 lầu, 18 phòng. Nới rộng Nhà thờ ra hai bên bằng khung sắt tiền chế mái lợp tôn. Mở rộng và xây tường bao khuân viên nhà thờ, cổng và nhà vòm. Năm 1998 thu hồi Nhà xứ cũ xây dựng Hoa Viên. Năm 1999 Xây Đài Đức Mẹ La Vang. Năm 2000 Vận động Giáo Dân cùng làm 3 con đường chính trong Giáo xứ (Đường Hoàng Văn Hòe – Đường Đô Đốc Lộc – Đường Nguyễn Lộ Trạch).

Tháng 12 năm 2005, Đặt Viên Đá và khởi công xây dựng Nhà Thờ mới trên khuân viên nền móng nhà thờ cũ. Đại Tu khu hoa viên (nhà xứ cũ) thành nhà thờ tạm trong thời gian xây dựng Nhà thờ mới.

Đến Năm 2006, khi Ngôi nhà thờ xây dựng mới hoàn tất phần nền móng, tầng hầm và tầng hoa viên, vì tuổi cao sức yếu và đau bệnh, Cha Cố Giuse Maria tạm nghỉ và giao lại cho Cha Phụ tá Phêrô tiếp tục hoàn thiện Ngôi nhà thờ khang trang như hiện nay, Khánh Thành và cung hiến vào ngày 22 tháng 12/2007. Bên cạnh đó, Cha Phêrô Nguyễn Quốc Túy được Tòa Giám Mục giao làm quản nhiệm Giáo xứ thay cho Cha Cố Giuse Maria.

Tháng 07 năm 2009; Tòa Giám Mục chính thức chấp thuận cho Cha Cố Giuse Maria được Nghỉ Hưu, Đồng thời chính thức bổ nhiệm Cha Phêrô Nguyễn Quốc Túy Làm Chánh xứ, và Cha Giuse Nguyễn Hoàng Thanh làm Phụ tá.

Xây dựng nhân sự cho cơ cấu tổ chức Giáo xứ theo quy chế HĐMV Giáo xứ của Tòa Tổng Giám Mục.

Nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt phụng vụ của Giáo dân, Cha Chánh xứ Phêrô tiếp tục cho xây dựng các hạng mục sau:

Xây dựng Nhà Chầu Thánh Thể – Nhà Chờ Phục Sinh (Lưu giữ Hài Cốt)

Tháng 6 năm 2011, Cha Chánh xứ Phêrô cho xây dựng mới khu nhà Mục vụ Giáo xứ, với quần thể khu Nhà Xứ, nhà Sinh hoạt, các phòng lưu khách, phòng khách Giáo xứ, hội trường, các phòng sinh hoạt đoàn thể và các phòng học giáo lý.

Trung tuần tháng 9 năm 2012, tiếp tục cho đại tu Khu Nhà thờ tạm thành Hoa Viên thứ hai của Giáo xứ (Hoa Viên thứ nhật là tầng 01 gắn liền với Nhà Thờ). Dự kiến sẽ hoàn thành và đi vào phục vụ nhu cầu của Giáo dân trong tháng 11 năm 2012.

Nhìn chung, với những cơ sở vật chất như vậy đã hoàn thành được quy hoạch tổng thể cơ sở hạ tầng của Giáo xứ, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các sinh hoạt phụng vụ của mọi thành phần trong Giáo xứ.

Dưới sự dẫn dắt của Cha Chánh xứ Phêrô cùng với sự cộng tác nhiệt tình của Cha Phụ tá Giuse và Quý chức trong Hội Đồng Mục Vụ Giáo xứ, các đoàn thể… giáo xứ ngày một thăng tiến theo đà phát triển chung của giáo Hạt cũng như Giáo phận.

Giáo xứ được phân chia thành 05 Giáo Họ (05 khu) gồm:

– Giáo Họ Mông Triệu (Khu I) – Giáo Họ Gioan Baotixita (Khu II) – Giáo Họ Chúa Kitô Vua (Khu III) – Giáo Họ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam (Khu IV) – Giáo Họ Thánh Giuse Thợ (Khu V)

Các Gia Đình Cầu Nguyện trong Giáo xứ:

Huynh Đoàn Giáo Dân Đaminh – Legio – Tôn Nữ Vương – Phạt Tạ Thánh Tâm – Gia Trưởng – Monica – Gioan tương trợ – Phúc âm – Tận Hiến – Thăng tiến hôn nhân – La Vang – Lòng Chúa thương xót – Giáo lý viên và Thiếu Nhi

Các Ban Trong Giáo xứ:

Ban Phụng Vụ – Ban Lễ Sinh – Ban Thừa Tác Viên Thánh Thể – Ban Âm Thanh-Ánh sáng – Ban Giảng dạy Giáo lý Hôn Nhân và tân tòng. – Ban Bác ái Caritas – Ban chăm sóc bệnh nhân – Ban Khánh Tiết – Ban Bảo Vệ – Ban Trật Tự – Ban Bảo trì – xây dựng – Ban Truyền thông – Ban quản lý Các Hoa Viên và Các đền Đài.

Các Ca Đoàn Trong Giáo xứ:

– Ca Đoàn Thánh Gia – Ca Đoàn Têrêsa – Ca Đoàn Monica (Các Bà Mẹ) – Ca Đoàn Giuse (Các Gia trưởng) – Ca Đoàn Cecilia – Ca Đoàn Thiên Thần (Thiếu Nhi)

* Ngoài ra còn có một số chị em đệ tử Dòng MTG Tân việt cộng đoàn Tân Thái sơn phụ trách hát một số lễ sáng ngày thường.