Đề Xuất 3/2023 # Giáo Án:thể Dục Giờ Học :Đề Tài Bật Liên Tục 3 # Top 6 Like | Asus-contest.com

Đề Xuất 3/2023 # Giáo Án:thể Dục Giờ Học :Đề Tài Bật Liên Tục 3 # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giáo Án:thể Dục Giờ Học :Đề Tài Bật Liên Tục 3 mới nhất trên website Asus-contest.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thể dục giờ học: Bật liên tục 4-5 vòngTCVĐ: kéo coI.Kết quả mong đợi:* Kiến thức: -Biết tên vận động ” Bật liên tục vào 4- 5vòng “. Trẻ biết phối hợp sức mạnh của toàn thân để bật liên tục vào 4- 5vòng một cách khéo léo, chính xác, tiếp đất bằng hai mũi bàn chân, không dẫm vào cạnh vòng.Trẻ biết trò chơi vận động: “Kéo co”-*Kỹ năng: -Rèn kỹ năng bật liên tục vào vòng.Rèn luyện sức mạnh cơ bắp của đôi chân, tố chất nhanh, mạnh, khéo.Rèn kỹ năng cho trẻ chơi trò chơi vận động đúng luật, đúng cách chơi.*Thái độ: -Trẻ hứng thú tham gia hoạt động. Trẻ biết tập thể dục cho cơ thể khoẻ mạnh.II. Chuẩn bị: – Xắc xô, còi, vạch chuẩn, 5vòng to, 1 dây thừng kéo co.- Máy tính, loa, nhạc bài hát: Tàu lửa, mùa xuân đến rồi, em yêu cây xanh- 10 vòng nhỏIII. Cách tiến hành: Hoạt động của côHoạt động của trẻ 1. Tạo cảm xúc- Cô giới thiệu hội thi: ” Bé khỏe”, ban giám khảo hội thi, 3 đội chơi: Đội Hoa đỏ và đội Hoa xanh và đội hoa vàng – Cô giới thiệu các phần thi: diễu hành, đồng diễn, tài năng, chung sức. – Giải thưởng: Ở mỗi phần thi đội nào thắng cuộc sẽ được thưởng một bông hoa. *Hoạt động trọng tâm:2. Khởi động: * Phần thi 1: “Diễu hành”:- Cô mở nhạc lời bài hát Tàu lửa cho trẻ đi thành 1 vòng tròn các kiểu chân- Cô nhận xét phần thi ” Diễu hành” và tặng hoa cho đội đi đều, đẹp.- Cho trẻ điểm số 1-2 từ đầu hàng đến cuối hàng. Sau đó tách thành 4 hàng đứng so le, quay lên phía cô để tập bài tập phát triển chung 3. Trọng động:a. Bài tập phát triển chung: * Phần thi 2: “Đồng diễn”: Tập với bài hát: “em yêu cây xanh+ Động tác tay vai: Đưa tay ra trước, sang ngang+ Động tác bụng: Đứng cúi về trước+ Động tác chân: Khuỵu gối+ Động tác bật: tách khép chân- Cô nhận xét màn đồng diễn, tặng hoa cho đội tập đều đẹp. – Cho trẻ chuyển đội hình, đứng thành 2 hàng quay mặt vào nhau b. Vận động cơ bản: Bật liên tục vào 4-5 vòng* Phần thi 3: ” Tài năng”- Cô chỉ vào vòng mẫu của cô và hỏi trẻ có mấy vòng? Cho trẻ đếm số vòng?- Cô tập mẫu lần 1: Không giải thích – Cô tập mẫu lần 2 kết hợp phân tích động tác: Cô đi từ đầu hàng đến trước vạch xuất phát, khi có hiệu lệnh “chuẩn bị” cô đứng nghiêm 2 tay chống hông. Khi có hiệu lệnh “bật”, cô khuỵu gối, lưng thẳng, dùng sức mạnh của toàn thân bật nhẹ nhàng liên tục vào từng vòng, tiếp đất bằng 2 mũi bàn chân, sao cho chân không dẫm vào cạnh vòng, cứ như vậy cô bật liên tục vào từng vòng cho đến hết. Bật xong cô đi về cuối hàng đứng.- Cô mời 2 trẻ ở 2 đội lên thực hiện trước * Trẻ thực hiện: – Lần 1: Cô cho trẻ “Bật liên tục vào 3vòng”. Cô mời 2 trẻ ở đầu mỗi hàng lên tập, lần lượt cho đến hết trẻ ở mỗi hàng.- Lần 2: Tăng độ khó. Cô thêm 2 vòng vào số vòng tập mẫu của mỗi đội. Cho trẻ ” Bật liên tục vào 5 vòng”. Cô mời 2 trẻ ở đầu mỗi hàng lên tập, lần lượt cho đến hết trẻ ở mỗi hàng.- Lần 3: Cho trẻ thi đua theo 2 đội: ” Bật liên tục vào 5vòng”. Thời gian sẽ tính bằng một bản nhạc, * Củng cố bài học:- Cô hỏi trẻ tên bài tập? Mời 1 trẻ khá lên tập lại. * Giáo dục trẻ thường xuyên tập thể dục ăn uống đầy đủ c. TCVĐ: Kéo co* Phần thi 4: “Chung sức.” – Cô giới thiệu tên trò chơi: Kéo co- Cô giới thiệu cách chơi ,Luật chơi- Trẻ chơi- Cô nhận xét và tặng hoa cho đội thắng4. Kết thúc hoạt động:- Cô cùng trẻ đếm số bông hoa 2 đội ghi được, tuyên bố đội thắng cuộc – Cô cho trẻ đi nhẹ nhàng, du xuân ngắm hoa 1-2 vòng Kết hợp nhạc Ra vườn hoa em chơi- Trẻ chú ý

Mười Đề Tài Luân Lý Kitô Giáo: Đề Tài 1, 2 Và 3.

Tập sách này không phải là một biên khảo hay một giáo trình về thần học luân lí Kitô Giáo hay đạo đức học Kitô Giáo, mà chỉ là tập hợp các bài trình bày tóm tắt một số đề tài của khoa thần học ấy, giúp các sinh viên thần học ôn tập lại bộ môn này sau một thời gian xa trường lớp và chuẩn bị quay lại với công tác mục vụ tại xứ đạo. Chính vì thế, sẽ không có sự trình bày chi tiết và đầy đủ của một giáo trình hay sự tham cứu rộng rãi và gợi mở của một biên khảo, nhưng chỉ ghi nhận những đường nét lớn của luân lí Kitô Giáo nói chung và luân lí Kitô Giáo khi khảo sát một số vấn đề quan trọng, như tôn giáo, chính trị, sự sống, tính dục và hôn nhân, kinh tế, truyền thông. Trong giới hạn ấy, có lẽ sách sẽ có ích hơn cho những ai muốn nhớ lại cách nhanh chóng và căn bản luân lí Kitô Giáo hoặc xa hơn nữa, cho những ai muốn làm quen với nền luân lí ấy trong bản chất và mục tiêu, cũng như trong khi giải quyết một số vấn đề đạo đức lớn của con người thời đại. Xin đừng quên điều này để đón nhận tập sách và thông cảm với những khiếm khuyết của tập sách. Hy vọng rằng với những hiểu biết căn bản mà tập sách cung cấp, độc giả sẽ hiểu rõ hơn con đường mà người Công Giáo thường mượn để đi tìm hạnh phúc – hạnh phúc cho mình và cho người khác.

Luân lí Kitô Giáo đóng vai trò nào trong đời sống người kitô hữu và có những nét đặc thù nào so với các nền luân lí khác? Có thể có xung đột giữa luật lệ (quyền bính) và lương tâm không; nếu có, phải giải quyết thế nào? Phân biệt các mức độ hướng dẫn và ràng buộc của lương tâm.-

Mười đề tài luân lý Ki-tô Giáo

Luân lí Kitô Giáo đóng vai trò nào trong đời sống người kitô hữu và có những nét đặc thù nào so với các nền luân lí khác?

Nhập đề : Từ những ghi nhận về tình trạng luân lí suy đồi tại Việt Nam nói chung và trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam nói riêng (suy đồi trong giáo dục và kinh doanh, y tế và sự sống, tính dục và hôn nhân, quyền hành và chính trị…), chúng ta thử đi tìm nguyên nhân. Không kể những nguyên nhân từ những ảnh hưởng của văn hoá và văn minh thời mới, phải kể đến tình trạng nhận thức sai lầm hay ít ra, chưa đầy đủ, về vai trò của luân lí và luân lí Kitô Giáo trong đời sống con người.

1. Trong giáo huấn của Đức Giêsu và Hội Thánh Kitô Giáo sơ khai, chúng ta đã thấy vai trò hết sức quan trọng của luân lí trong đời sống cá nhân và tập thể kitô hữu

Theo giáo huấn của Đức Giêsu

Theo giáo huấn của Hội Thánh Kitô Giáo sơ khai

2. Luân lí trong tương quan với các khía cạnh khác của đời sống Kitô hữu

– Tuy nhiên, dù có quan trọng đến đâu, luân lí Kitô Giáo cũng không thể nào đứng độc lập một mình. Người kitô hữu không thể chỉ bằng lòng sống ngay lành mà thôi, cũng như đã không thể chấp nhận hiểu biết đức tin ngày càng sâu xa và cử hành phụng vụ ngày càng sốt sắng mà thôi. Đời sống luân lí của người kitô hữu không phải chỉ loay hoay với việc làm lành lánh dữ, mà còn phải làm lành lánh dữ theo giáo lí của Đức Kitô. Người kitô hữu không thực hành luân lí chỉ theo lương tâm và lương tri tự nhiên, mà quyết liệt thực hành luân lí dựa trên đức tin Kitô Giáo (luân lí dựa trên đức tin). Ngoài ra, nỗ lực sống luân lí của người kitô hữu không phải là nỗ lực ở tầm mức con người, nhắm tới những kết quả trong thế giới con người, mà còn vươn tới tầm mức Thiên Chúa, nhắm tới những kết quả trong thế giới Thiên Chúa. Chính vì thế, sống luân lí phải đi đôi với cử hành các mầu nhiệm, nâng các sự việc của con người lên mức các mầu nhiệm qua đó Thiên Chúa cứu độ con người bằng cách cầu nguyện và kết hợp với Ngài (luân lí hướng tới và được hỗ trợ bởi ơn thánh, nhận được qua cầu nguyện và cử hành phụng vụ).

3. Đâu là những nét đặc thù của luân lí Kitô Giáo so với các nền luân lí khác ?

Trong quá trình tìm hiểu luân lí Kitô Giáo, nhất là có đối chiếu với các nền luân lí khác, người ta khám phá ra một số nét riêng của luân lí Kitô Giáo cần phải được tôn trọng và phát huy.

3.1. Đó là một nền luân lí mang đậm nét tôn giáo hay chính xác hơn, mang đậm nét Kitô Giáo

3.2. Là một nền luân lí được giới thiệu cho con người qua tay Giáo Hội

3.3. Cũng là một nền luân lí bắt nguồn từ luân lí tự nhiên và cởi mở tiếp thu sự đóng góp của các nền luân lí và các khoa học khác của thời đại

4. Các nguồn cần liên hệ để thực hành luân lí

Một cách cụ thể, để thực hành và giúp người khác thực hành luân lí, người kitô hữu sẽ liên hệ hay tham khảo ba nguồn sau đây : giao ước với Chúa, lề luật và lương tâm.

4.1. Giao ước với Chúa : đây là cơ sở quan trọng nhất mà người kitô hữu cần lưu ý khi thực hành luân lí. Người kitô hữu có tuân giữ lề luật và lắng nghe lương tâm chính là vì muốn qua đó càng ngày càng đi sâu hơn vào giao ước với Chúa, bây giờ và mai sau. Không có chân trời hay viễn tượng này thì lề luật và ngay cả lương tâm cũng gây cảm giác nặng nề và bó buộc cho người kitô hữu. Hơn nữa, chính giao ước với Chúa sẽ là cơ sở biện minh cho giá trị của lề luật và lương tâm : luật nào hay tiếng lương tâm nào không giúp đưa người ta đi sâu hơn vào giao ước với Chúa đều đáng bị nghi ngờ, thậm chí cự tuyệt.

4.2. Lề luật : tuy nhiên, nếu không có lề luật hay các chuẩn mực khách quan thì người kitô hữu sẽ dễ rơi vào tình cảnh mơ hồ và lạc lối khi bước vào giao ước với Chúa. Chính các lề luật này sẽ cho họ biết phải làm gì để ngày càng giao ước thân mật hơn với Chúa.

4.3. Lương tâm : rất tiếc, lề luật chẳng bao giờ đủ vì trong cuộc sống con người có biết bao tình huống, mà mỗi người phải vận dụng lương tâm của mình để ứng dụng các lề luật vào các tình huống cụ thể ấy. Đó là chưa kể những lề luật sai, mà nếu không có lương tâm phê phán người ta rất có thể đã lạc lối.

Rõ ràng là nếu muốn sống đúng phẩm giá con người thì không thể chỉ tìm điều nào có lợi hay thích thú, mà còn phải tìm kiếm những điều tốt hay những điều phù hợp với phẩm giá con người (luân lí). Con người không thể sống mà không có luân lí : con người ăn uống không chỉ tìm cái gì ngon miệng hay bổ ích, mà còn tìm điều nào xứng với phẩm giá con người. Trong tâm thức tự nhiên, con người đã luôn muốn điều tốt luân lí, huống nữa là trong tâm thức của những người được cứu độ. Đã thấy tầm quan trọng của luân lí như thế, cả trong ý thức tự nhiên lẫn trong ý thức tôn giáo, người kitô hữu chẳng những không né tránh luân lí, mà còn tìm cách xây dựng đời sống luân lí ngày càng tốt hơn, xứng với phẩm giá kitô hữu và khai thác những nét riêng của luân lí Kitô Giáo.

Khi kết thúc đề tài thứ nhất, chúng ta đã thấy ba nguồn mà người kitô hữu phải dựa vào để tổ chức đời sống luân lí của mình: giao ước với Chúa, luật lệ và lương tâm. Trong đó, giao ước với Chúa là điểm tham chiếu quan trọng hơn cả, vì người kitô hữu giữ luật hay lắng nghe lương tâm nhằm để mỗi ngày mỗi tiến sâu hơn vào giao ước với Chúa, hay người kitô hữu chỉ giữ luật và lắng nghe lương tâm trong mức độ chúng phục vụ cho quan hệ của chúng ta với Chúa. Giao ước với Chúa hay quan hệ mật thiết với Chúa – cứu cánh của luân lí Kitô Giáo – cũng chính là chìa khóa để giải quyết các xung đột có thể có giữa lề luật và lương tâm.

1. Khi nào có xung đột giữa lề luật và lương tâm?

Và phải giải quyết thế nào?

Xưa nay thường có hai cách giải quyết sai lầm, xuất phát từ hai quan điểm khá cực đoan về lương tâm và nguồn gốc của lương tâm.

Nên nhớ rằng sự xung đột lương tâm rất cần được giải quyết, nếu không hoàn toàn thì ít là cơ bản, không phải chỉ vì để cho cuộc sống được yên ổn mà đó còn là điều kiện để tạo sự phát triển con người và thăng tiến xã hội toàn diện. Vì chưng, lương tâm không theo chuẩn mực hay lề luật do quyền bính nào đưa ra sẽ là lương tâm độc tôn dẫn tới tình trạng cá nhân chủ nghĩa, vô chính phủ và phi chuẩn mực. Ngược lại, lề luật hay quyền bính mà không được các lương tâm đón nhận sẽ trở thành chuyên chế, dẫn tới tình trạng ấu trĩ, thiếu trưởng thành và mất tính nhân linh trong đời sống con người và xã hội.

3. Những tình trạng lương tâm khác nhau dẫn đến những mức ràng buộc khác nhau

Lương tâm là khả năng giúp mỗi người phê phán các giá trị trong từng trường hợp cụ thể, để dẫn con người tới hành động. Chỉ tiếc là không phải lúc nào lương tâm cũng phê phán giúp con người và thúc đẩy con người hành động cách đúng đắn và xác tín. Vì thế mới có vấn đề lương tâm có thể lên tiếng với những cung giọng khác nhau và bởi đó ràng buộc cách khác nhau.

3.1. Lương tâm chắc chắn và đúng đắn là tình trạng lí tưởng nhất của lương tâm : không những lương tâm đưa ra một phán đoán cách xác tín (ý chí) mà còn tin chắc phán đoán ấy đúng đắn hay phù hợp với lề luật hoặc phù hợp với ý muốn của Chúa (lí trí). Trong trường hợp này, con người không những phải hành động theo lương tâm mà còn sẽ mắc tội chống lại Chúa khi không tuân theo : đã tin chắc phán đoán ấy là đúng với ý của Chúa mà không tuân theo thì chẳng phải là đã chống lại Chúa hay sao ? Ở đây, có khi lương tâm rất chắc chắc với phán đoán của mình nhưng không ngờ đó lại là phán đoán sai so với lề luật hay so với ý muốn của Chúa. Lúc ấy, cần phân biệt việc sai lầm này có được mình dự đoán hay tiên liệu hay hoàn toàn nằm ngoài hiểu biết của mình, có thể khắc phục được hay hoàn toàn nằm ngoài khả năng của mình, ít là lúc này. Nếu hoàn toàn nằm ngoài hiểu biết hay hoàn toàn không thể khắc phục được thì có thể coi sai lầm này nằm ngoài ý muốn và khả năng của mình, và vì thế có thể nghe theo toàn tâm toàn ý vì không biết (không biết thực sự và không có khả năng sửa chữa ngay) thì không thể kết tội.

Xung đột giữa lề luật và lương tâm là xung đột muôn thuở, song song với xung đột giữa quyền hành và tự do, giữa xã hội và cá nhân. Khôn ngoan nhất vẫn là nhìn ra giá trị và giới hạn của mỗi bên để lấy bên này bổ sung bên kia, nhất là tập trung cả hai vào một tổng hợp lấy giao ước với Chúa là đích điểm và trọng tâm. Bên cạnh việc ghi nhớ mục tiêu chung của lề luật và lương tâm, cá nhân mỗi người còn cần đào tạo lương tâm bằng cách không những cập nhật hoá các hiểu biết luân lí của mình, mà còn không ngừng thanh lọc tâm hồn mình. Phía người làm luật cũng cần thực hành các điều vừa kể và luôn nâng cao hiểu biết của mình về con người và xã hội hiện tại.

MƯỜI ĐỀ TÀI LUÂN LÝ KITÔ GIÁO : ĐỀ TÀI 3

1. Đi tìm một quan niệm đúng đắn và đầy đủ về tội

Từ những quan niệm hiện hành trong xã hội…

– Tội là sự xâm phạm cách bất công tới quyền lợi của người khác : Đây là cách hiểu phổ biến nhất hiện nay vì nó đáp ứng sự nhạy bén ngày càng cao của con người tới người khác, quyền lợi và công bằng. Cái gì làm hại đến người khác đều là tội và chỉ khi nào làm hại tới người khác mới là tội. Nhưng như thế, hễ khi nào không làm hại tới người khác hoặc khi người khác bỏ qua không chấp nhất thì không có tội. Trong thực tế, các quyền lợi của người khác và các sự xâm phạm quyền lợi của người khác thường được minh định trong các bộ luật quốc gia. Thế nên, tội cũng chính là sự vi phạm các lề luật do Nhà Nước qui định. Cũng chỉ có tội khi quyền lợi người khác bị xâm phạm hay khi luật lệ Nhà Nước bị vi phạm. Và sẽ không có tội khi quyền lợi người khác được ghi trên giấy trắng mực đen của pháp chế quốc gia không bị xâm phạm, hay khi người khác hay cơ quan Nhà Nước không khởi tố, không kết án và đã tha bổng.

Đến quan niệm của Kitô Giáo về tội, dựa trên mặc khải Thánh Kinh

2. Các khoa học về con người, đặc biệt khoa tâm lí chiều sâu, làm sáng tỏ thêm nhiều khía cạnh của tội, giúp ta đánh giá tội đúng đắn hơn

3. Có tội nặng và nhẹ không? Làm sao phân biệt được các mức độ của tội?

3.1. Đã phân tích tội, chúng ta không thể không thấy có nhiều điều khác nhau giữa tội này với tội kia, tội lần này với tội lần nọ, tội của người này với tội của người kia. Chính luật pháp các quốc gia cũng phân biệt các mức tội để luận phạt cho công bằng. Bản thân mỗi người cũng ý thức thiệt hại nặng thiệt hại nhẹ do tội gây ra. Kinh Thánh cũng đã nhìn nhận có các loại tội khác nhau, các mức tội khác nhau, các hậu quả tội khác nhau, và vì thế các hình phạt khác nhau. Thế nên, không thể nói như một số người : tội nào cũng như nhau, hoặc tất cả đều nặng hay tất cả đều nhẹ.

3.2. Vấn đề còn lại là làm sao phân biệt đúng đắn các mức tội ấy? Người ta thường căn cứ trên hai điểm sau đây để phân biệt:

3.3. Mới đây, có người cho rằng ai cũng có một lựa chọn căn bản, tức là lựa chọn chi phối tất cả cuộc sống của mình, như sống độc thân tu trì hay kết hôn… Và nếu muốn đánh giá hành vi của một người, chúng ta không thể không liên hệ đến lựa chọn căn bản của người ấy. Chúng ta cũng sẽ hiểu đầy đủ hơn một hành vi của con người nếu liên hệ đến sự lựa chọn căn bản ấy, như ta sẽ hiểu rõ hơn hành vi vâng phục của một người nếu biết đó là người đã chọn đời tu và đã cam kết thể hiện lòng mến Chúa qua sự tùng phục của mình. Bằng không, chúng ta có thể đánh giá không đúng mức sự vâng phục của họ bằng cách cho rằng người ấy làm thế vì những lí do hay hoàn cảnh tự nhiên… Một khi đã nhận thức lại vị trí quan trọng của các lựa chọn căn bản trong đời sống một con người, có người cho rằng chỉ là tội nặng khi hành vi của người ấy làm người ấy bội phản lựa chọn căn bản hay khi hành vi người ấy làm trở ngại nặng nề việc thực hiện lựa chọn căn bản của mình. Nhận xét này rất sâu sắc, nhưng cũng có thể bị lạm dụng để cho rằng tôi có thể làm mọi sự không tốt miễn là chưa bội phản ơn gọi căn bản của mình, như tiêu xài hoang phí, giao du bừa bãi, tự ý tự quyết, miễn là chưa bỏ đời tu… Nên nhớ rằng không phải chỉ khi nào triệt tiêu hẳn sự lựa chọn căn bản, hành vi ấy của tôi mới là tội nặng. Mà chỉ cần làm vô hiệu hoá sự lựa chọn căn bản của mình, hay cản trở không cho tôi sống lựa chọn căn bản của mình (có sự lựa chọn ấy nhưng cũng gần như không!), các hành vi ấy cũng có thể trở thành tội nặng.

Tội là một thực tại cũng có lâu như con người, đến nỗi nó gần như trở thành số kiếp của con người. Nhưng có lâu đến đâu và có trở thành số kiếp của con người tới mức nào, nó vẫn không phải là tất cả con người. Con người còn là một điều gì quí giá hơn nữa, và trong thực tế con người từ xưa đến nay vẫn đã, đang và sẽ làm được nhiều điều tốt đẹp. Đó là chưa nhắc đến phẩm giá, ơn gọi và định mệnh cao quí Thiên Chúa đã ban cho con người. Chính vì thế, khi tìm hiểu về tội, chúng ta không bao giờ tìm hiểu để buông tay đầu hàng mà là để tiến lên – trong khiêm tốn mà cũng trong tin tưỡng nữa.

Lm. Pr. Đặng Xuân Thành (Đại Chủng viện Hà Nội)

Giáo Án Lớp 2 Học Kì 1

Có công mài sắt, có ngày nên kim.

A-Mục đích yêu cầu:

I-Rèn luyện kỹ năng đọc thành tiếng:

-Đọc trơn toàn bài. Đọc đúng các từ mới: nắn nót, mải miết, ôn tồn, thành tài. Các từ có vần khó: quyển, nguệch ngoặc, quay. Các từ có âm, vần dễ viết sai do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương: nắn nót, tảng đá, sắt

-Biết nghỉ hơi sau các dấu chấm, dấu phẩy và giữa các cụm từ.

-Bắt đầu biết đọc phân biệt lời kể chuyện với lời nhân vật.

II-Rèn luyện kỹ năng đọc-hiểu

-Hiểu nghĩa các từ ngữ mới.

-Hiểu nghĩa đen và nghĩa bóng của câu tục ngữ “Có công mài sắt, có ngày nên kim”.

-Rút được lời khuyên từ câu chuyện: Làm việc gì cũng phải kiên trì, nhẫn nại mới thành công.

TUẦN 1 Thứ hai ngày tháng năm 2011 TẬP ĐỌC. Tiết 1, 2. Có công mài sắt, có ngày nên kim. A-Mục đích yêu cầu: I-Rèn luyện kỹ năng đọc thành tiếng: -Đọc trơn toàn bài. Đọc đúng các từ mới: nắn nót, mải miết, ôn tồn, thành tài. Các từ có vần khó: quyển, nguệch ngoặc, quay. Các từ có âm, vần dễ viết sai do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương: nắn nót, tảng đá, sắt -Biết nghỉ hơi sau các dấu chấm, dấu phẩy và giữa các cụm từ. -Bắt đầu biết đọc phân biệt lời kể chuyện với lời nhân vật. II-Rèn luyện kỹ năng đọc-hiểu -Hiểu nghĩa các từ ngữ mới. -Hiểu nghĩa đen và nghĩa bóng của câu tục ngữ "Có công mài sắt, có ngày nên kim". -Rút được lời khuyên từ câu chuyện: Làm việc gì cũng phải kiên trì, nhẫn nại mới thành công. B-Đồ dùng dạy học: C-Các hoạt động dạy học: Tiết 1: I-Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ. Kiểm tra đồ dùng học tập của học sinh. II-Hoạt động 2: Bài mới. 1-Giới thiệu bài: Ghi bảng. 2-Luyện đọc đoạn 1, 2: -Giáo viên đọc mẫu đoạn 1, 2. Theo dõi -GV hướng dẫn HS luyện đọc từng cầu đến hết bài Đọc nối tiếp Đọc nối tiếp trong một đoạn Luyện đọc TN Đọc Đọc nối tiếp đoạn theo nhóm Cá nhân Đồng thanh -Giải nghĩa: ngáp ngăn, ngáp dài, nắn nót, nghuệch ngoặc, mải miết, ôn tồn, thành tài. -Gọi HS đọc cá nhân từng câu -Từ, giải nghĩa -Gọi HS đọc từng đoạn nối tiếp -Gọi HS đọc từng đoạn trong nhóm -Thi đọc đoạn giữa các nhóm. Giáo viên nhận xét -Giáo viên hướng dẫn HS đọc cả đoạn 1, 2. 3-Tìm hiểu bài: -Hướng dẫn HS đọc thầm đoạn 1 +Lúc đầu cậu bé học hành ntn? Mỗi khi cầm sách.. -Hướng dẫn HS đọc thầm đoạn 2: +Cậu bé thấy bà cụ đang làm gì? Cầm thỏi sắt mải miết mài vào tảng đá +Bà cụ mài thỏi sắt để làm gì? Kim Tiết 2. 4-Luyện đọc các đoạn 3, 4: a-Đọc từng câu: -HS nối tiếp đọc từng câu trong đoạn 1. Cá nhân -Giáo viên hướng dẫn HS luyện đọc từ ngữ khó Đọc b-Đọc từng đoạn trước lớp: - HS nối tiếp nhau đọc từng đoạn trong bài Cá nhân -Hướng dẫn HS nghỉ hơi ở những câu dài. c-Đọc từng đoạn trong nhóm: Lần lượt gọi HS trong nhóm đọc. Nhận xét d-Thi đọc giữa các nhóm: Tổ chức cho HS trò chơi luyện đọc tiếp sức. Nhận xét e-Hướng dẫn HS đọc đoạn 3, 4; Tìmhiểu đoạn 3, 4: Đọc đồng thanh +Bà cụ giảng giải ntn? Mỗi ngàythành tài +Chọn đáp án đúng: Câu chuyện này khuyên em điều gì? a) Chăm chỉ học tập. Chọn đáp án a) b) Chịu khó mài sắt thành kim. -Hướng dẫn HS đọc truyện theo lối phân vai. Người dẫn truyện, bà cụ, cậu bé. III-Hoạt động 3: Củng cố-Dặn dò: -Em thích ai trong câu chuyện này? Vì sao? -Nhận xét, dặn dò chuẩn bị bài sau. ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~ Chính tả CÓ CÔNG MÀI SẮT CÓ NGÀY NÊN KIM I. Mục tiêu - Chép lại bài chính xác đoạn :" mỗi ngày màicháu thành tài " - Củng cố quy tắc chính tả c/k. Học thuộc lòng 9 chữ cái đầu trong bảng chữ cái II. Đồ dùng - Vở thực hành III. Các hoạt động dạy học. 1.Giới thiệu bài : 1' 2. Hướng dẫn tập chép: 20' a. Ghi nhớ nội dung - GV đọc đoạn viết - Đoạn viết là lời nói của ai nói với ai? b. Cách trình bày - Đoạn viét có những chữ nào viết hao ? - Nêu cách viết chữ đầu đoạn? c. Hướng dẫn viết tiếng khó - GV đọc : sắt, ngày , thành .... d. Viết chính tả - Hướng dẫn tư thê ngồi viết - GV đọc bài - Thu bài chấm, nhận xét 3. Hướng dẫn làm bài tập: 9' Bìa 2 /3: Điền c/k vào chỗ trống - HS nêu yêu cầu - Làm bài tập ở vở - Chữa bài, nhận xét Bài 3 /3 : Điền chữ cái vào ô trống trong bảng - HS làm bài vào vở thực hành - GV & HS chữa bài và nhận xét - HS đọc thuộc lòng 9 chữ cái vừa điền - 2 HS đọc - Bà cụ nói với cậu bé - Mỗi , Giống - Lùi vào 1 ô , chữ cái đầu tiên viét hoa - HS viết bảng con và phân tích - HS chép bài vào vở thực hành - HS soát lỗi HS làm bài - Cái kim ; cái cầu ; con kiến; củ khoai C. Củng cố - dặn dò : 4p - Hôm nay viết chính tả bài gì ? - Bìa tập củng cố kiến thức gì ? Về : rèn chữ và chuẩn bị bài sau ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~ Thể dục : TẬP HỢP HÀNG DỌC, DÓNG HÀNG, ĐIỂM SỐ. I.Mục tiêu - Biết cách tập hợp hàng dọc ,HS đứng vào hàng dọc đúng vị trí (thấp trên cao dưới ) .Biết dóng thẳng hàng dọc . - Biết cách điểm số , đứng nghiem ,nghỉ ,biết cách dàn hàng ngang ,dồn hàng - Biết cách tham gia và thực hiện theo YC của TC * Tiếp tục ôn tập một số kiến thức KN đã học ở L1 II Địa điểm phương tiện: Sân trường, còi III Nội dung và phương pháp lên lớp: Hoạt động dạy Hoạt động học 1. Phần mở đầu : Tập hợp lớp Phổ biến nội dung, yêu cầu giờ học Khởi động 2.Phần cơ bản a.Ôn tập hợp hàng dọc, dóng hàng, điểm số, giậm chân tại chổ, dừng lại GV theo dõi hướng dẫn b. Chào, báo cáo khi giáo viên nhận lớp và kết thúc giờ học * Tiến hành -Hàng dọc : điểm số báo cáo -Lớp trưởng chuyển thành đội hình hàng ngang chờ giáo viên nhận lớp. -GV vào vị trí, LT hô "Nghiêm", LT tiến đến cách GV 1 - 2m báo cáo: "Báo cáo cô giáo, lớp 2B tổng số 21 có mặt đầy đủ" -GV : Được -LT quay về vị trí và hô : "Chúc cô giáo" lớp ĐT"khoẻ". -GV: "chúc các em khoẻ" -Kết thúc giờ học : GV"giải tán" -Lớp ĐT "Khoẻ" +GV theo dõi hướng dẫn c.Trò chơi : Diệt các con vật có hại 3. Phần kết thúc : Nhận xét tiết học, dặn dò HS xếp thành 3 hàng dọc H lắng nghe H thực hiện bài khởi động Lớp trưởng điều khiển- lớp thực hiện HS xếp thành 3 hàng ngang HS lắng nghe LT điều khiển Cả lớp thực hiện Lớp thực hiện trò chơi HS nêu nội dung bài học vổ tay hát ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~ . Thứ tư ngày tháng năm 2011 LUYỆN TỪ VÀ CÂU CỦNG CỐ: TỪ VÀ CÂU I. MỤC TIÊU Bước đầu làm quen với các khái niệm từ và câu thông qua các bài tập thực hành . II. ĐỒ DÙNG DẠY - HỌC Bảng phụ ghi sẵn nội dung bài tập 3. III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CHỦ YẾU Hoạt động dạy Hoạt động học MỞ ĐẦU DẠY HỌC BÀI MỚI Giới thiệu bài Hướng dẫn làm bài tập Bài 1: Yêu cầu học sinh nêu yêu cầu của bài. Có bao nhiêu hình vẽ. Tám hình vẽ này ứng với 8 tên gọi trong phần ngoặc đơn, hãy đọc 8 tên gọi này. Chọn một từ thích hợp trong 8 từ để gọi tên bức tranh 1. Yêu cầu học sinh tiếp tục làm bài tập, gọi một học sinh khá hoặc lớp trưởng điều khiển lớp. Bài 2 Gọi một học sinh nêu lại yêu cầu của bài. Yêu cầu học sinh lấy ví dụ về từng loại. Tổ chức thi tìm từ nhanh. Kiểm tra kết quả tìm từ của các nhóm: giáo viên lần lượt đọc to từ của từng nhóm (có thể cho các nhóm trưởng đọc). Tuyên dương nhóm thắng cuộc. Bài 3: Gọi học sinh nêu yêu cầu. Gọi học sinh đọc câu mẫu. Hỏi: Câu mẫu vừa đọc nói về ai, cái gì? Tranh 1 còn cho ta thấy điều gì? (Vườn hoa được vẽ như thế nào?) Tranh 2 cho ta thấy Huệ định làm gì? Theo em, cậu bé trong tranh 2 sẽ làm gì? Yêu cầu viết câu của em vào vở BTTV 2/1 (nếu có). 3. CỦNG CỐ DẶN DÒ Nhận xét tiết học và yêu cầu học sinh tiếp bài sau. Có 8 hình vẽ. Đọc bài: học sinh, nhà, xe đạp, múa, trường, chạy, hoa hồng, cô giáo. Trường. Học sinh làm tiếp bài tập. Lớp trưởng điều khiển cả lớp. Lớp trưởng nêu từng tên gọi, cả lớp chỉ vào tranh tương ứng và đọc to số thứ tự tranh đó lên. Chẳng hạn: học sinh số 2; nhà - số 6 Học sinh làm bài vào Vở bài tập Tiếng Việt 2, tập 1 (Vở BTTV 2/1) nếu có. Tìm các từ chỉ đồ dùng học tập, các từ chỉ hoạt động của học sinh, các từ chỉ tính của học sinh. 3 học sinh, mỗi học sinh nêu 1 từ về một loại trong các loại từ trên. (VD: bút chì (học sinh 1); đọc sách (học sinh 2); chăm chỉ (học sinh 3). Học sinh chia thành 4 nhóm. Mỗi học sinh trong nhóm ghi các từ tìm được vào một phiếu nhỏ sau đó dán lên bảng. Đếm số từ của các nhóm tìm được theo lời đọc của giáo viên. Chẳng hạn: giáo viên đọc: thước kẻ -- Học sinh đếm: một Hãy viết một câu thích hợp nói về người hoặc cảnh vật trong mỗi hình vẽ. Đọc: Huệ cùng các bạn vào vườn hoa. Trả lời: Câu mẫu này nói về Huệ và vườn hoa trong tranh 1. Vườn hoa thật đẹp. / Những bông hoa trong vườn thật đẹp Học sinh nối tiếp nhau nói về cô bé. VD: Huệ muốn ngắt một bông hoa./ Huệ đưa tay định ngắt một bông hoa./ Huệ định hái một bông hoa, Cậu bé ngăn Huệ lại. / Cậu bé khuyên Huệ không được hái hoa trong vườn Tập làm văn TỰ GIỚI THIỆU. CÂU VÀ BÀI I. Mục tiêu - Vận dụng các kiến thức đã học và bài tập đọc Tự thuật để hoàn thành các bài tập ( VTH) - Rèn chữ viết , kĩ năng làm bài cho HS - Giáo dục ý thức tự giác học tập II. Đồ dùng - Bảng phụ III. Các hoạt động dạy học. 1. KTBC : 5' - Em hiểu tự thuật là - Để bạn biết được về mình, em phải làm gì ? - Nhận xét , đánh giá 2. Bài mới Bài 1 : 15' -Nêu yêu cầu bài tập ? - GV nhắc lại yêu cầu phổ biến cách chơi - Đại diện một số cặp lên trình bày - Lớp và GV nhận xét đánh giá Bài 2 : 15' - Bài yêu cầu gì? HD : Dựa vào các gợi ý để trình bày cho thích hợp. Đây là kể về bạn - 2 HS làm miệng - lớp nhận xét - HS làm vở bài tập - Chữa bài , đánh giá - HS đổi chéo vở soát bài - Cả bài củng cố kiến thức gì ? Chơi đóng vai với một bạn, 2 người tự giới thiệu về mình theo gợi ý sau: - Chào bạn.. - Tôi tên là .... - Nhà tôi ở - Tôi học lớp 2a7 Trường Tiểu học Cẩm Trung - Tôi thích học nhất là môn - Tôi thích Viết lại những điều em biết về một bạn trong lớp Hộ và tên Nơi ở.. HS lớp... Trường.. Thích học môn .... - Tự giới thiệu về mình và về bạn 3. Củng cố - dặn dò : 4p - Nêu nội dung bài học? - Về : Học và tập nói nhiều lần cho nhớ - Chuẩn bị bài sau - Nhận xét giờ học ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~ TỰ NHIÊN- XÃ HỘI Bài 1: CƠ QUAN VẬN ĐỘNG I- Mục tiêu: Biết được xương và cơ là các cơ quan vận động của cơ thể; Hiểu được sự phối hợp hoạt động của cơ và xương mà cơ thể ta cử động được; Hiểu tác dụng của vận động giúp cho cơ quan vận động phát triển tốt, cơ thể khoẻ mạnh. Tạo hứng thú cho học sinh. II- Đồ dùng dạy học: Tranh vẽ cơ quan vận động (cơ-xương). III- Hoạt động dạy học: Hoạt động dạy Hoạt động học 1- Kiểm tra bài cũ: Khởi động: Gv chi HS chơi 2- Bài mới: Giới thiệu ghi bảng. * Hoạt động 1: Hoạt động cặp đôi. - Gv giới thiệu hoạt động cặp đôi. - Gv cho mỗi nhóm thể hiện lại động tác quay cổ, giơ tay, nghiêng người, cúi gập ngư ... Sơ kết học kì 1: GV cùng học sinh hệ thống lại những kiến thức đó học ở học kỳ I - GV công bố kết quả của học kì 1. - Tuyên dương những em có thành tích học tập tốt, ý thức học tốt. - Phê bình một số em chư có ý thức học tập tốt. * Trò chơi " Bịt mắt bắt dê": - GV hướng dẫn và tổ chức cho hs chơi * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * 3.Phần kết thc: GV cho học sinh thả lỏng. GV cng học sinh hệ thống nội dung bi học GV nhận xét đánh giá kết quả giờ học. GV giao bi tập về nh cho học sinh * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * Thứ ngày tháng năm 2011 TẬP ĐỌC ÔN TẬP - KT TẬP ĐỌC VÀ HTL I. Mục tiêu On luyện tập đọc và học thuộc lòng. On luyện về từ chỉ hoạt động và các dấu câu. On luyện về cách nói lời an ủi và cách nói lời tự giới thiệu. II. Chuẩn bị GV: Phiếu ghi tên các bài tập đọc. Bảng phụ chép sẵn đoạn văn bài tập 2. HS: SGK. III. Các hoạt động Hoạt động của Thầy Hoạt động của Trò 1. Khởi động (1') 3. Bài mới Giới thiệu: (1') Nêu mục tiêu tiết học và ghi đầu bài lên bảng. v Hoạt động 1: On luyện tập đọc và học thuộc lòng Gọi HS lên bảng bốc thăm bài tập đọc. Theo dõi HS đọc chỉnh sửa lỗi sai cho các em nếu có và chấm điểm khuyến khích: + Đọc đúng từ đúng tiếng: 7 điểm. + Nghỉ ngơi đúng, giọng đọc phù hợp: 1,5 điểm. + Đạt tốc độ 45 tiếng/ 1 phút: 1,5 điểm. v Hoạt động 2: On luyện về từ chỉ hoạt động Yêu cầu HS đọc đề bài và đọc đoạn văn trong bài. Yêu cầu HS tìm và gạch chân dưới 8 từ chỉ hoạt động có trong đoạn văn. Gọi HS nhận xét bài bạn. Kết luận về câu trả lời đúng sau đó cho điểm. Lời giải: nằm, lim dim, kêu, chạy, vươn mình, dang (đôi cánh), vỗ, gáy. v Hoạt động 3: On luyện về các dấu chấm câu Yêu cầu HS đọc lại đoạn văn, đọc cả các dấu câu. Hỏi: Trong bài có những dấu câu nào? Dấu phẩy viết ở đâu trong câu? Hỏi tương tự với các dấu câu khác. v Hoạt động 4: On luyện về cách nói lời an ủi và tự giới thiệu Gọi HS đọc tình huống. Hỏi: Nếu em là chú công an, em sẽ hỏi thêm những gì để đưa em nhỏ về nhà? (Em hãy an ủi em bé trước rồi phải hỏi tên, hỏi địa chỉ của em bé thì mới có thể đưa em về nhà). Yêu cầu HS thực hành theo cặp. Sau đó gọi một số cặp lên trình bày và cho điểm. 4. Củng cố - Dặn dò (3') Nhận xét chung về tiết học. Chuẩn bị: Tiết 5 Hát 7 đến 8 HS lần lượt lên bảng, bốc thăm chọn bài tập đọc sau đó đọc 1 đoạn hoặc cả bài như trong phiếu đã chỉ định. Đọc đề bài. 1 HS làm trên bảng lớp. Cả lớp làm bài vào Vở bài tập. Nhận xét bạn làm bài Đúng/ Sai. Bổ sung nếu bài bạn còn thiếu. Đọc bài. Ví dụ: Càng về sáng, phẩy, tiết trời càng lạnh giá. chấm. Trong bài có dấu phẩy, dấu chấm, dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu chấm cảm, dấu ba chấm. Dấu phẩy viết ở giữa câu văn. Dấu chấm đặt ở cuối câu. Dấu hai chấm viết trước lời nói của ai đó (trước lời nói của bác Mèo mướp và tiếng gáy của gà trống). Dấu ngoặc kép đặt đầu và cuối lời nói. Dấu ba chấm đặt giữa các tiếng gáy của gà trống. 2 HS đọc thành tiếng. Cả lớp đọc thầm. 2 HS khá làm mẫu trước. Ví dụ: + HS 1: Cháu đừng khóc nữa, chú sẽ đưa cháu về nhà với mẹ. + HS 2: Thật hả chú? + HS 1: Ừ, đúng thế, nhưng trước hết cháu cho chú biết cháu tên là gì? Mẹ cháu tên là gì? Nhà cháu ở đâu? Nhà cháu có số điện thoại không? (Hỏi từng câu). + HS 2: Cháu tên là A. Mẹ cháu tên là Phương. Nhà cháu ở số 8, Ngõ Chợ, phố Khâm Thiên. Điện thoại nhà cháu là 8342719. Thực hiện yêu cầu của GV. TUYỆN TỪ VÀ CÂU Tiết: ÔN TẬP TIẾT 6 - KT TẬP ĐỌC VÀ HTL I. Mục tiêu On luyện tập đọc và học thuộc lòng. On luyện kĩ năng kể chuyện theo tranh và sắp xếp các câu văn thành bài. On luyện kĩ năng viết tin nhắn. II. Chuẩn bị HS: SGK, vở bài tập. III. Các hoạt động Hoạt động của Thầy Hoạt động của Trò 1. Khởi động (1') 3. Bài mới Giới thiệu: (1') Nêu mục tiêu tiết học và ghi đầu bài lên bảng. Phát triển các hoạt động (27') v Hoạt động 1: On luyện tập đọc và học thuộc lòng Gọi HS lên bảng bốc thăm bài tập đọc. Theo dõi HS đọc chỉnh sửa lỗi sai cho các em nếu có và chấm điểm khuyến khích: + Đọc đúng từ đúng tiếng: 7 điểm. + Nghỉ ngơi đúng, giọng đọc phù hợp: 1,5 điểm. + Đạt tốc độ 45 tiếng/ 1 phút: 1,5 điểm. v Hoạt động 2: Kể chuyện theo tranh và đặt tên cho truyện Gọi 1 HS đọc yêu cầu của bài. Yêu cầu HS quan sát tranh 1. Hỏi: Trên đường phố, mọi người và xe cộ đi lại thế nào? Ai đang đứng trên lề đường? Bà cụ định làm gì? Bà đã làm được việc bà muốn chưa? Yêu cầu kể lại toàn bộ nội dung tranh 1. Yêu cầu quan sát tranh 2. Hỏi: Lúc đó ai xuất hiện? Theo em, cậu bé sẽ làm gì, nói gì với bà cụ. Hãy nói lại lời cậu bé. Khi đó bà cụ sẽ nói gì? Hãy nói lại lời bà cụ. Yêu cầu quan sát tranh 3 và nêu nội dung tranh. Yêu cầu kể lại toàn bộ câu chuyện. Yêu cầu HS đặt tên cho truyện. Hướng dẫn: Đặt tên cần sát với nội dung của truyện hoặc nêu nhân vật có trong truyện v Hoạt động 3: Viết tin nhắn Gọi 1 HS đọc yêu cầu của bài. Vì sao em phải viết tin nhắn? Nội dung tin nhắn cần những gì để bạn có thể đi dự Tết Trung Thu? Yêu cầu HS làm bài. 2 HS lên bảng viết. Nhận xét hai tin nhắn của 2 HS lên bảng. Gọi một số em trình bày tin nhắn, nhận xét và cho điểm. Ví dụ: Lan thân mến! Chào cậu: Hồng Hà 4. Củng cố - Dặn dò (3') Nhận xét chung về tiết học. Chuẩn bị: Tiết 7 Hát 7 đến 8 HS lần lượt lên bảng, bốc thăm chọn bài tập đọc sau đó đọc 1 đoạn hoặc cả bài như trong phiếu đã chỉ định. 1 HS đọc thành tiếng. Cả lớp đọc thầm theo. Trên đường phố người và xe đi lại tấp nập. Có 1 cụ bà già đang đứng bên lề đường. Bà cụ định sang đường nhưng mãi vẫn chưa sang được. Thực hành kể chuyện theo tranh 1. Lúc đó một cậu bé xuất hiện. Bà muốn sang bên kia đường nhưng xe cộ đi lại đông quá, bà không sang được. Cậu bé đưa bà cụ qua đường/ Cậu bé dắt tay đưa bà cụ qua đường . . . Kể nối tiếp theo nội dung từng tranh. Sau đó 2 HS kể lại nội dung của truyện. Nhiều HS phát biểu. VD: Bà cụ và cậu bé/ Cậu bé ngoan/ Qua đường/ Giúp đỡ người già yếu... Đọc yêu cầu. Vì cả nhà bạn đi vắng. Cần ghi rõ thời gian, địa điểm tổ chức. Làm bài cá nhân. MÔN: TỰ NHIÊN XÃ HỘI Tiết: GIỮ TRƯỜNG HỌC SẠCH ĐẸP I. Mục tiêu 1Kiến thức: Nhận biết được thế nào là lớp học sạch đẹp. 2Kỹ năng: Biết tác dụng của việc giữ cho trường học sạch đẹp đối với sức khoẻ và học tập. Làm một số công việc đơn giản để giữ trường học sạch đẹp như: quét lớp, quét sân trường, tưới và chăm sóc cây xanh của trường. 3Thái độ: Có ý thức giữ trường lớp sạch đẹp và tham gia vào những hoạt động làm cho trường học sạch đẹp. II. Chuẩn bị GV: Tranh, ảnh trong SGK trang 38, 39. Một số dụng cụ như: Khẩu trang, chổi có cán, xẻng hót rác, gáo múc nước hoặc bình tưới. Quan sát sân trường và các khu vực xung quanh lớp học và nhận xét về tình trạng vệ sinh ở những nơi đó trước khi có tiết học. HS: SGK. Vật dụng. III. Các hoạt động Hoạt động của Thầy Hoạt động của Trò 1. Khởi động (1') 2. Bài cu (3') Phòng tránh té ngã khi ở trường. Kể tên những hoạt động dễ gây nguy hiểm ở trường? Nên và không làm gì để phòng tránh tai nạn khi ở trường? GV nhận xét. 3. Bài mới Giới thiệu: (1') Giữ trường học sạch đẹp. Phát triển các hoạt động (27') v Hoạt động 1: Nhận biết trường học sạch đẹp và biết giữ trường học sạch đẹp. ò ĐDDH: Tranh. Bước 1: Treo tranh ảnh trang 38, 39. Hướng dẫn HS quan sát tranh ảnh và trả lời câu hỏi: Tranh 1: Bức ảnh thứ nhất minh họa gì? Nêu rõ các bạn làm những gì? Dụng cụ các bạn sử dụng? Việc làm đó có tác dụng gì? Tranh 2: Bức tranh thứ 2 vẽ gì? Nói cụ thể các công việc các bạn đang làm? Tác dụng? Trường học sạch đẹp có tác dụng gì? Bước 2: Yêu cầu HS trả lời câu hỏi: Trên sân trường và xung quanh trường, xung quanh các phòng học sạch hay bẩn? Xung quanh trường hoặc trên sân trường có nhiều cây xanh không? Cây có tốt không? Khu vệ sinh đặt ở đâu? Có sạch không? Có mùi hôi không? Trường học của em đã sạch chưa? Theo em làm thế nào để giữ trường học sạch đẹp? Kết luận: Nhấn mạnh tác dụng của trường học sạch đẹp. Nhắc lại và bổ sung những việc nên làm và nên tránh để giữ trường học sạch đẹp. v Hoạt động 2: Thực hành làm vệ sinh trường, lớp học Ÿ Phương pháp: Thực hành ò ĐDDH: Vật dụng. Bước 1: Phân công việc cho mỗi nhóm. Phát cho mỗi nhóm một số dụng cụ phù hợp với từng công việc. Hướng dẫn HS biết cách sử dụng dụng cụ hợp lí để đảm bảo an toàn và giữ vệ sinh cơ thể. VD: Đeo khẩu trang, dùng chổi có cán dài, vẩy nước khi quét lớp, quét sân hoặc sau khi làm vệ sinh trường, lớp; nhổ cỏ phải rửa tay bằng xà phòng. Bước 2: Tổ chức cho các nhóm kiểm tra đánh giá. Đánh giá kết quả làm việc. Tuyên dương những nhóm và cá nhân làm tốt. 4. Củng cố - Dặn dò (3') Sau bài học ngày hôm nay em rút ra được điều gì? Kết luận: Trường lớp sạch đẹp sẽ giúp chúng ta khoẻ mạnh và học tập tốt hơn. Chuẩn bị: Bài 19. Hát - HS nêu, bạn nhận xét. HS quan sát theo cặp các hình ở trang 38, 39 SGK và trả lời các câu hỏi. Cảnh các bạn đang lao động vệ sinh sân trường. Quét rác, xách nước, tưới cây Chổi nan, xô nước, cuốc, xẻng Sân trường sạch sẽ Trường học sạch đẹp. Vẽ cảnh các bạn đang chăm sóc cây hoa. Tưới cây, hái lá khô già, bắt sâu Cây mọc tốt hơn, làm đẹp ngôi trường. Bảo vệ sức khoẻ cho mọi người, GV, HS học tập giảng dạy được tốt hơn. Nhớ lại kết quả, quan sát và trả lời. Không viết, vẽ bẩn lên bàn, lên tường. Không vứt rác, không khạc nhổ bừa bãi. Không trèo cây, bẻ cành, hái vứt hoa, dẫm lên cây. Đại, tiểu tiện đúng nơi qui định Tham gia vào các hoạt động làm vệ sinh trường lớp, tưới chăm sóc cây cối. Làm vệ sinh theo nhóm. Phân công nhóm trưởng. Các nhóm tiến hành công việc: + Nhóm 1: Vệ sinh lớp. + Nhóm 2: Nhặt rác, quét sân trường + Nhóm 3: Tưới cây xanh ở sân trường + Nhóm 4: Nhổ cỏ, tưới hoa ở sân trường. Nhóm trưởng báo cáo kết quả. Các nhóm đi xem thành quả làm việc, nhận xét và đánh giá. Biết được thế nào là trường lớp sạch đẹp và các biện pháp để giữ gìn trường lớp sạch đẹp,

Tin Giáo Dục : Thái Lan Giảm Giờ Học Cho Học Sinh Phổ Thông

Thứ tư, ngày 13 tháng 03 năm 2013

(Dân trí)-Báo The Nation cho biết Bộ trưởng Giáo dục Thái Lan vừa đồng ý giảm 200 giờ học một năm cho các lớp học. Như vậy mỗi năm học sinh nước này sẽ học khoảng 800 giờ đồng hồ trên lớp. Động thái này nằm trong kế hoạch cải cách giáo dục của đất nước chùa Vàng.

Hôm 10/3, Tiến sĩ Pavich Thongroj – chủ tịch Ủy ban Cải cách chương trình giảng dạy và sách giáo khoa cho Giáo dục Cơ bản đồng thời là cố vấn của Bộ Giáo dục Thái Lan phát biểu: “Chúng tôi chỉ cần thêm hai cuộc họp nữa để kết luận về những yếu tố chính phải của kế hoạch này.”

Ông cho biết kế hoạch cải cách lớn trong hệ thống giáo dục sẽ được sẵn sàng để thực hiện trong một giai đoạn quan trọng trước cuối tháng này. Trong giai đoạn đó, mô hình mới sẽ đưa vào thí điểm ở các trường Suankularb Wittayalai, Bodin Decha, Satriwitthaya, Mahidol Witthayanusorn và Chulabhorn.

Tiến sĩ Pavich nói: “Sau đó, chúng tôi sẽ đưa ra kết luận trong vòng sáu tháng tới.”

Hôm thứ bảy vừa rồi, Bộ Giáo dục Thái Lan đã triệu tập cuộc họp đầu tiên về chương trình cải cách với sự tham gia 30 quan chức giáo dục nhằm vạch ra những thay đổi. Ông Pavich cũng có mặt trong cuộc họp.

Bộ trưởng Pongthep lưu ý rằng học sinh ở một số quốc gia trên thế giới có kết quả học tập tốt hơn mặc dù có thời gian học tập ít hơn học sinh Thái Lan.

Hiện nay, một học sinh trung học ở Thái Lan trung bình học 1.200 giờ và một học sinh tiểu học trung bình học 1.000 giờ mỗi năm. Số giờ học như vậy là ở mức cao trên thế giới. Ở các nước châu Phi, các học sinh được yêu cầu học 1.400 giờ mỗi năm và thành tích học tập đã giảm.

Trong khi đó, học sinh Nhật Bản và Hàn Quốc đều có số giờ học ít hơn 1.000 giờ/năm và họ có thành tích học tập rất tốt. Học sinh Hong Kong chỉ học 790 giờ mỗi năm và nước này có thành tích học tập đứng thứ ba trên thế giới.

Tổ chức UNESCO khuyến nghị khoảng 800 giờ học/năm là phù hợp.

Bộ trưởng Pongthep nói: “Thực tế học sinh của chúng tôi có số giờ học quá nhiều và đây là kết quả từ một thái độ, nhận thức và niềm tin sai rằng giờ học nhiều sẽ giúp học sinh học tập được nhiều. Nhưng sự thực là học sinh đã dành quá nhiều thời gian trên lớp và có ít thời gian để phân tích mọi thứ và học các kĩ năng cần thiết khác cho cuộc sống.”

Theo Tiến sĩ Pavich, với mục tiêu giảm giờ học xuống ít hơn 800 giờ mỗi năm, học sinh tiểu học Thái Lan sẽ được giảm 3 giờ học mỗi tuần và học sinh trung học được giảm 4 giờ học mỗi tuần. Ủy ban Cải cách chương trình giảng dạy và sách giáo khoa cho Giáo dục Cơ bản cũng cho rằng chương trình giảng dạy hiện nay có hạn chế và nó dẫn đến việc học tập không mấy hiệu quả của học sinh. TS Pavich nói: “Vì vậy chúng tôi cần phải điều chỉnh lại chương trình giảng dạy.”

Ông cho rằng giảm giờ học sẽ không ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục bởi học sinh có thể tìm hiểu thông qua phương pháp học qua dự án. Ông nói: “Học sinh sẽ có cơ hội để tiếp xúc với lượng kiến thức đa dạng và hài lòng với việc học tập, đồng thời không cảm thấy như bị giam chân trong các lớp học.”

Giáo sư Tiến sĩ Sompong Jitradab – giảng viên Đại học Chulalongkorn đã đồng ý với việc giảm giờ học trên lớp, ông cho rằng học sinh cần thêm thời gian để học các kĩ năng sống khác là những kĩ năng giúp các em tồn tại trong xã hội hiện đại. Ông kêu gọi Bộ Giáo dục Thái Lan thay đổi chương trình giảng dạy hiện tại bằng một chương trình mới bởi chương trình hiện tại đã được sử dụng trong 12 năm qua, nó đã lỗi thời và có nhiều hạn chế.

TS Pavich cho biết sau khi chương trình giảng dạy mới được đưa ra, ông sẽ thúc đẩy việc thành lập một Ủy ban Giảng dạy Quốc gia. Ông nói: “Ủy ban sẽ liên tục cải thiện chương trình giảng dạy khi cần thiết.”

Bộ Giáo dục Thái Lan đã có kế hoạch thúc đẩy cải cách trình độ giáo viên để cải thiện chất lượng giảng dạy khoa học, công nghệ, toán học và ngôn ngữ, cùng với công nghệ thông tin cho giáo dục.

Phương Hoài

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giáo Án:thể Dục Giờ Học :Đề Tài Bật Liên Tục 3 trên website Asus-contest.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!